Galleons of the Pacific, Acapulco, Manila, hay Nao de China đều là các tên gọi thông dụng để chỉ Chiếc thuyền Trung Quốc thời đó. Đó không phải là thuật ngữ nói về tàu thuyền của TQ, mà là những chuyến tàu xuyên Thái Bình Dương, đưa hàng hóa Á Đông đi khắp nơi trên thế giới. Mặc dù có hình dáng tương tự nhau, nhưng các chiếc thuyền được đóng ở Châu Á khác biệt nhiều so với tàu đóng ở TBN.
Xem lại Phần 1: Chiếc thuyền Trung Quốc, giao thương toàn cầu và sự ra đời của đồng đôla.
Thợ đóng tàu sẽ xác định loại gỗ nào phù hợp nhất để đóng tàu, sau đó công nhân đánh dấu và khai thác đem về.
Xem lại Phần 1: Chiếc thuyền Trung Quốc, giao thương toàn cầu và sự ra đời của đồng đôla.
Chương 2: Chiến thuyền galleon và biểu thượng thương mại của 2 thế kỉ rưỡi
Sự kì công:
Ngành đóng tàu ở TBN cực kì phát triển ở thế kỉ 16, các bậc thầy và thợ lành nghề đã đến Philippines để đóng tàu theo đơn đặt hàng. Mặc dù thuyền buồm galleon vẫn đóng theo luật hiện hành quy định ở TBN, nhưng ở Philippines có nguồn gỗ chất lượng cao dồi dào và bền chắc đã giúp người TBN đóng được hàng trăm chiếc chiến thuyền galleon cho tới thế kỉ 17, chiếc đóng sau lại càng xịn sò hơn chiếc trước.
Gỗ chất lượng cao, bền và chắc:
Các loại gỗ chắc, cứng và đa dạng của rừng mưa nhiệt đới ở Philippines có khả năng chống nước và chống côn trùng tốt, có thể kể tới các loại cây như bitaog, apitong, terminalia trees, banaba, palo maria, dangam, arguijo, coamings…
Thợ đóng tàu sẽ xác định loại gỗ nào phù hợp nhất để đóng tàu, sau đó công nhân đánh dấu và khai thác đem về.
Hầu hết gỗ được khai thác từ các khu rừng ở Laguna de Bay, phía nam Manila của Philippines. Phải cần tới 6.000 công nhân và 3 tháng làm việc mới khai thác đủ gỗ để đóng 1 chiếc thuyền galleon.
Thợ đóng tàu sẽ tận dụng hình dáng tự nhiên của cây cối để ứng dụng cho từng phần của thân tàu mà không cần phải uốn néo nhiều. Ví dụ loại cây cao, thẳng như cây thông để làm cột buồm, thân cây nào cong dùng làm khung tàu, sống tàu.
Theo truyền thống thời đó, cây gỗ sẽ được khai thác vào đêm trăng non để gỗ cứng hơn, tăng khả năng chống chọi thời tiết tốt hơn và chống ẩm, chống nấm mốc tốt hơn.
Đóng tàu chiến Galleon:
Galleon được đóng tại các xưởng đóng tàu ở Cavite, một tỉnh ven biển ở phía nam Manila, thuộc đảo lớn Luzon. Rất nhiều nhân sự gồm thợ rèn, thợ mộc, thợ nề cùng với các chuyên gia hải quân đã cùng nhau tạo ra những lâu đài vững chắc trên biển - họ gọi như vậy vì tàu chiến ưu tiên sức mạnh hơn là sự cơ động.
Theo quy định khắt khe của đế quốc TBN thì 1 chiến thuyền galleon cần tối thiểu 2 năm để đóng. Tuy nhiên ở Philippines được linh động hơn, thời gian đóng tàu được rút ngắn xuống 6 tháng, cần khoảng 2.000 cây gỗ.
Đặc trưng của Galleon:
Galleon là thuyền buồm cỡ lớn của Tây Ban Nha, vừa làm tàu chiến, vừa làm thuyền chở hàng hóa và chở người. Trong thời gian đầu khi tuyến hàng hải Acapulco - Manila - Acapulco được khai thác, tàu galleon đóng ở Cavite được giữ nguyên đặc trưng của thiết kế gốc ở TBN. Sau này khi giao thương phát triển hơn, tàu đóng ở Philippines đã được “cá nhân hóa” và có nhiều phong khách riêng.
Nhờ sử dụng gỗ chất lượng cao bền và chắc, giúp thân tàu chiến galleon đóng ở Philippines vững chắc và chịu được đạn pháo. Trong thời gian năm 1762 - 1764 khi người Anh tấn công để chiếm đóng Philippines, họ đã bắn hơn 1.000 phát đại bác - mỗi trái đạn pháo nặng hơn 10kg - về phía chiến tàu chiến Neustra Santisima Señora de la Trinidad đang trấn giữ vịnh Manila. Cuối cùng khi chiếm được con tàu, người Anh đã rất ngạc nhiên khi thấy thân tàu hầu như không bị hư hại.
Quảng cáo
Không chỉ có gỗ mà rất nhiều kim loại còn được sử dụng để đóng tàu galleon, như làm đinh, neo, xích, giáo, bù lon, đinh ghim đinh tán, khóa, chốt, bản lề tay lái vv và vv.
Đa số kim loại và sắt thô được nhập khẩu từ Trung Quốc, số ít hơn mua từ Nhật, Ấn Độ và Châu Mỹ. Thống đốc Philippines còn đặt hàng TQ sản xuất riêng đinh và chốt theo yêu cầu để phục vụ đóng tàu chiến.
Người ta bọc thêm lớp thiết hoặc chì mỏng ở quanh thân tàu để gia tăng khả năng chống chọi thời tiết, chịu hỏa lực pháo binh và hà biển.
Buồm của thuyền làm bằng vải bông chất lượng cao khai thác từ tỉnh Ilocos của Philippines, giá thành rẻ hơn nhưng bền chắc hơn hàng xuất xứ Châu Âu. Dây thừng để cột, neo buồm làm bằng sợi cây abaca, bền chắc hơn loại dây làm bằng gai dầu Châu Âu.
Tuy nhiên thuyền buồm galleon thời đó vẫn còn sử dụng cần lái dạng tay đòn, vì mãi tới đầu thế kỉ 18 thì bánh lái dạng vô-lăng tròn như ngày nay mới xuất hiện. Khi lái, thủy thủ phải nghiêng mình 45-50 độ để bẻ cần lái nhưng bánh lái chỉ di chuyển 5-10 độ mà thôi, khiến cho góc chuyển hướng của thuyền rất rất hẹp.
Boong sau của tàu galleon cao, cần có tải trọng dằn để cân bằng tàu, giúp hàng hóa không bị lật, đổ.
Quảng cáo
Năm 1565 galleon có tải trọng chỉ 200 tấn thì đến thế kỉ thứ 18, đó là loại tàu lớn nhất thế giới, sức chứa lên tới 2.000 tấn.
Cùng ngắm một chiếc thuyền buồm galleon thế kỉ 16:
Đây là thiết kế đặc trưng của một chiến thuyền galleon của thế kỉ 16-17, những chiếc thuyền đã đi lại khứ hồi giữa Acapulco và Manila.
Thủy thủ đoàn chịu trách nhiệm bảo trì bảo dưỡng thường xuyên cho con tàu.
Tùy thuộc vào kích thước của tàu lớn nhỏ mà cần từ 60 - 100 thủy thủ làm việc trên tàu.
Họ tuyển dụng thủy thủ chuyến khởi hành từ Acapulco chủ yếu là người Âu-Mỹ, trong khi chuyến về từ Manila đa số là thủy thủ người Châu Á.
Nhà vệ sinh chung dành cho thủy thủ và hành khách đặt ở mũi tàu, cực kì nguy hiểm khi biển động.
Galleon thường có 4 cái neo. Neo chính nặng khoảng 600kg.
Hằng ngày các hoa tiêu quan sát biển và xác định vị trí hiện tại của tàu trên hải đồ.
Samurai Nhật Bản từng được tuyển dụng để làm lính canh trên các chuyến tàu thời đó.
Đôi khi thủy thủ còn cải thiện bữa ăn bằng cách đánh cá ngừ.
Gia súc được nuôi thả ngay trên boong tàu, còn gia cầm thì nuôi nhốt trong lồng dưới khoang hàng. Nói chung là chúng ở chung không gian với thủy thủ đoàn và hành khách.
Galleon là tàu chiến kiêm tàu hàng nên vẫn được trang bị đại bác, tuy nhiên số lượng súng được giảm bớt để tăng tải trọng chở hàng hóa và con người, đồng thời làm giảm khả năng phòng thủ của tàu khi gặp cướp biển hoặc kẻ địch.
Bạc chỉ được vận chuyển 1 chiều từ phương tây tới TQ để mua hàng hóa, chủ yếu dạng bạc thỏi và sau này là đồng xu đôla TBN.
Ngược lại, hàng hóa từ TQ xuất đi Tân TBN có gấm vóc, đồ gia dụng, gốm sứ, trang sức và châu báu, gia vị, nông sản, thậm chí là động vật sống.
Thủy thủ đoàn ngủ trên những chiếc võng.
Chương 3: Chuyến tàu kinh hoàng
Vịnh Manila, thứ Sáu ngày 29/6/1696.
Một chiếc thuyền buồm galleon chở đầy hàng hóa và hành khách, chuẩn bị khởi hành đi Acapulco, Mexico.
Đến trưa, một chiếc thuyền buồm nhỏ là parao có nhiệm vụ lai dắt chiếc galleon ra khỏi cảng biển, để nó khởi hành ra Thái Bình Dương.
Câu chuyện này được kể lại trong nhật ký của Giovanni Francesco Gemelli Careri (1648 - 1725), nhà thám hiểm người Ý thế kỉ 17, ghi lại hành trình của ông từ Manila tới Acapulco.
Ông viết trong nhật kí vào năm 1698: Hải trình từ Philippines đi đến Acapulco ở Châu Mỹ được coi là chuyến đi dài nhất và khủng khiếp nhất hành tinh, vì phải vượt qua TBD bao la, những cơn bão kinh hoàng, gió thì luôn thổi ngược chiều đi khiến tốc độ tàu cực kì chậm.
Suốt 7-8 tháng lênh đênh trên biển, đói khát và bệnh hiểm nghèo ám ảnh chực chờ tước đi mạng sống của người đi biển. Thời tiết khi thì lạnh, lúc thì nóng, có khi lại mưa thuận gió hòa, đủ để tiêu diệt cả những người mình đồng da thép, huống chi là con người bằng xương bằng thịt, chỉ được ăn uống tạm bợ trên tàu.
Rời Manila, sau vài ngày chiếc thuyền chỉ đi được khoảng 13 hải lý (~24km) vì trời thiếu gió thuận. Bất kì cơn gió thoảng qua nào cũng thổi chiếc tàu trôi lệch hướng.
Chuyến đi mới bắt đầu thì cả đoàn gặp thời tiết xấu, mưa lớn liên tục. Trời nóng, ẩm ưới và tĩnh lặng. Chiếc thuyền mắc kẹt ở vịnh nhiều ngày liền.
Ngày 8/7, tức là 10 ngày sau khi khởi hành, họ buộc phải neo thuyền lại suốt 3 ngày vì trời đứng gió.
Trên tàu tổ chức khám xét tàu để tìm hàng lậu, có nhiều cái chum thay vì phải đựng nước uống lại được dùng làm nơi giấu hàng lậu. Thuyền trưởng ra lệnh đổ hết số hàng đó xuống biển, rất nhiều hạt tiêu, đồ gốm sứ và các vật giá trị bị đổ bỏ.
Ngày 14/7 gió ngược chiều thổi chiếc thuyền về lại chỗ cũ, quãng đường đi được mấy ngày trước bị xóa sạch.
Sau 17 ngày ra khơi, chiếc thuyền chỉ đi được tổng cộng 98 hải lý (181.5km), họ gặp vùng biển nguy hiểm nơi 2 dòng hải lưu ngược chiều giao nhau.
Khi thời tiết tốt hơn, chiếc thuyền cập đảo Marinduque, thủy thủ đoàn sử dụng thuyền nhỏ sampan để vô bờ, hi vọng tìm được trâu hoặc hươu làm thức ăn. Họ không thể tiến sâu hơn vô rừng nên không tìm được gì và phải trở về tay không.
Cuối cùng gió mạnh từ phía nam thổi tới, thuyền nhỏ neo và rời khỏi hòn đảo Marinduque.
Hành trình xuyên qua cửa vịnh San Bernardino, ban đêm thuyền phải dừng lại và thả neo vì ánh sáng sao trời không đủ giúp họ định vị đường đi, không đủ tầm nhìn để né tránh các rặn san hô chằng chịt và đảo nhỏ.
Sau đó đoàn tàu cặp bến đảo Ticao, mọi người rất phấn khởi khi nhìn thấy một chiếc ghe caracoa chầm chậm chèo tới gần.
Trên chiếc thuyền nhỏ caracao chở theo rất nhiều rau củ tươi, cả heo và gà. Đó là quà tặng từ chánh án tỉnh Albay của đảo Ticao.
Du khách đi trên tàu vô cùng nhạc nhiên, gần như không thể tin vào mắt mình khi nhìn thấy chiếc ghe caracao chở theo cả một cái chợ nổi, đầy ắp trái cây, nông sản và gia cầm gia súc.
Trong lúc chiếc thuyền đang neo đậu ở Ticao thì thêm một đợt kiểm tra khác diễn ra, lần này là với người đi tàu lậu. Những ai không có giấy thông hành hợp pháp đều bị bắt lại.
Giấy phép đi lại được đế quốc TBN phát hành với giá 20 đồng tiền vàng, nộp cho vua TBN. Tổng cộng 16 người đi lậu không có giấy thông hành bị bỏ lại đảo Ticao.
Hơn 1 tháng kể từ khi khởi hành, ngày 31/7 họ tới được đảo Ticao, tuy khởi đầu khó khăn nhưng đoàn tàu cũng đã tiến tới được cửa vịnh, nơi tiến ra biển Thái Bình Dương.
Nhưng chỉ mới đi được vài hải lý thì gió ngược hướng lại thổi lên, buộc thủy thủ đoàn phải thả neo. Họ tiếp tục mắc kẹt lại đó vài ngày.
Lúc này gia cầm trên thuyền vẫn còn rất nhiều. Để giải khuây, thủy thủ đoàn và hành khách nghĩ ra trò đá gà.
Không gian bí bách làm căng thẳng tăng cao. Một vị khách phàn nàn chất lượng bữa ăn phục vụ kém. Người phục vụ tát vị khách, tức giận, vị khách cầm dao lên và rượt đuổi người phụ tàu.
Thuyền trưởng quyết định trừng phạt họ nghiêm khắc.
Cả 2 bị bắt đứng trên boong tàu giữa trời nắng gắt, chân bị xích lại với nhau bằng cùm sắt, gọi là bilboes.
Cuối cùng gió thuận chiều cũng nổi lên, hoa tiêu cho phép tàu nhổ neo. Họ hướng thẳng ra eo biển Embocadero de San Bernardino để ra TBN. Dòng hải lưu ở eo biển này rất nguy hiểm, khiến cho chuyến trở về Acapulco rất gian nan.
Đêm đó một cơn bão lớn ập tới, biển động như nước sôi sùng sục trên bếp, khi mưa lớn trút xuống, hành khách trên tàu run rẩy suốt đêm vì sợ hãi, biết rằng họ đang gặp nguy hiểm lớn.
Sáng hôm sau, dòng hải lưu và thủy triều thuận lợi hơn đã giúp chiếc thuyền ra được eo biển. Từ xa, mọi người thấy núi lửa Albay phun trào (nay là núi lửa Bulusan).
Mọi người thở phào nhẹ nhõm, tất cả cùng nhau tiến ra TDB qua eo biển Embocadero de San Bernardino.
Chiếc thuyền nhỏ sampan được họ thả đi để không gây vướng víu con tàu. Trên tàu vẫn còn một chiếc thuyền nhỏ khác để sử dụng khi nguy cấp.
Tất cả dây cáp được cất giữ dưới boong tàu, họ quyết định không cần thả neo nữa cho khi tới được Tân TBN.
Các hoa tiêu chọn hướng đi qua quần đảo Mariana trước khi hướng lên phía tây bắc. Hành trình thông thường để trở về Acapulco thường là không đi theo hướng này.
Sau 2 tuần tiếp theo, khẩu phần nước được hạn chế ít lại vì tốc độ đoàn tàu đi rất chậm về đích.
Sau 66 lênh đênh trên biển, đoàn tàu ở gần quần đảo Mariana, đây là vị trí ngày 2/9/1696, đâu đó ở vĩ độ 18° Bắc.
Khi Mặt trời lặn, một cơn mưa lớn rớt xuống giúp mọi người giải khát. Các thủy thủ trần truồng tắm mưa và uống nước thỏa thích. Cơn mưa suốt đêm giúp họ tích trữ được rất nhiều nước ngọt.
Tuy nhiên, cơn mưa nhanh chóng biến thành một trận bão dữ dội, gió mạnh và sóng lớn đánh mạnh lên boong tàu. Các hoa tiêu buộc phải cho hạ cánh buồm xuống để cột buồm không bị gãy.
Khi mọi người cùng quây quần bên dưới lá buồm, họ cùng nhau cầu nguyện, làm lễ và chuyền tay nhau bức tượng. 3h sáng, gió đổi chiều thành gió thuận. Vị thuyền trưởng thề rằng sẽ quyên góp 200 đồng đôla TBN - tương đương với giá trị của cánh buồm - dâng lên bề trên để được ban phước lành.
Ngày 6/9, quần đảo Mariana đã hiện ra phía xa xa, tuy nhiên gió nghịch đã ngăn chiếc thuyền đi lên vĩ độ 19° Bắc như dự định. Họ nhìn thấy cột khói Griga bốc lên ở một trong những hòn đảo.
Thủy thủ đoàn sử dụng giẻ rách để làm mồi câu giống hình con cá chuồn, giúp họ câu được rất nhiều cá ngừ vân.
Ngày 9/9, bầu trời đêm chuyển màu tím rực rỡ và xuất hiện nhiều đám mây xanh. Vì chưa từng thấy hiện tượng này xảy ra nên khách đi tàu cho rằng đó là điềm lành. Thủy thủ đoàn cầu nguyện cho chuyến đi tốt đẹp. Đêm đó mọi người cùng ca hát, nhảy múa và cầu nguyện.
Mặc dù hiện tượng cực quang rất hiếm gặp ở vĩ độ 21° Bắc, nhưng người ta cho rằng đoàn tàu đã được nhìn thấy cực quang. Năm 1859 từng ghi nhận cực quang cũng xuất hiện ở vĩ độ tương đương, ở ngoài khởi Hawaii.
Rời eo biển San Bernardino, những sự kiện huyền bí liên tục xảy ra. Hết thấy cực quang thì các hoa tiêu còn thấy kim la bàn quay lung tung chứ không chỉ về phía nam - bắc.
Khoa học giải thích rằng hiện tượng đó xảy ra khi tàu biển đi qua khu vực đáy biển có cấu tạo từ đá núi lửa, nơi có nhiều khoáng chất magnetitt, tạo ra tín hiệu từ trường làm sai lệch la bàn.
20 ngày tiếp theo, nhờ những cơn gió thuận chiều, chiếc thuyền đã đến được vĩ độ 30° Bắc. Trời lạnh nên mọi người được phát thêm mền và quần áo để giữ ấm. Trong lúc đó, thực phẩm bắt đầu cạn kiệt.
Tiếp tục một cơn bão lớn ập tới vào ngày 2/10. Sóng mạnh đánh lên boong tàu, làm gãy tay lái. Buộc chiếc thuyền phải hạ buồm.
Chiếc thuyền chao đảo như que diêm trôi giữa dòng nước mênh mông. Khách trên tàu thấy như họ bị nhấn xuống vực sâu mỗi khi sóng biển đánh nước tràn lên tàu.
Mọi người bị hất lên rồi rớt xuống, bị đồ vật bay tứ tung đập trúng.
Sáng hôm sau bão vẫn còn nhưng cũng bắt đầu dịu bớt. Một con chim nhỏ, có thể là chim hoàng yến, đậu trên cột buồm để tránh bão. Nó nhanh chóng biến thành bữa lót dạ cho người lái tàu và phụ lái.
Ngày 18/10, họ lên tới vĩ độ 36° Bắc và trời bắt đầu trở lạnh.
Trên tàu, các thương nhân nhìn thấy số hàng hóa họ mua từ TQ đã bị mưa bão làm hư hại, họ đã bị phá sản.
Chiếc thuyền tiếp tục trôi về phía đông nam. Cuối cùng, cơn bão cũng tan đi, nhường chỗ cho biển tĩnh lặng. Đêm đó, các ánh sáng xuất hiện mà thủy thủ gọi đó là lửa thánh Elmo. Người TBN coi đó là điềm lành do Chúa gởi tới.
Sau cơn bão, hành khách và thủy thủ đoàn tiếp tục đối mặt với cái đói và bệnh tật. Trên tàu xuất hiện đầy muỗi hút máu. Ngoài ra còn mối mọt bu đầy bánh mì và bánh quy.
Bữa ăn giờ đây chỉ còn xúp đậu xanh, bên trong đầy giòi nổi lềnh bềnh.
Đôi khi họ được phát thêm món tasajos, là thịt bò hoặc trâu phơi khô bằng nắng và gió. Rất dai và khó nuốt, gần như không thể nhai được nếu không đập kĩ cho mềm.
Tuy vậy, cứ cách 2 ngày họ vẫn có socola để uống, thi thoảng có thêm đồ ngọt ăn trong bữa tối. Khi thực phẩm cạn kiệt, đồ ngọt được giữ lại dành cho người đau bệnh.
Thời tiết khắc nghiệt, mưa gió liên tục, nóng lạnh thất thường và thiếu ăn, nhiều người trên tàu bắt đầu đổ bệnh.
Tất cả mọi người trên tàu rất phấn khởi khi họ nhìn thấy một con chim bồ câu bay ngang qua, đó là điềm báo may mắn rằng chuyến đi sẽ tốt đẹp hơn. Họ hy vọng sẽ sớm thấy được đất liền trong 1 tháng nữa.
Ngày 19/11, họ đến được vĩ độ 39° Bắc. Cái lạnh và độ ẩm khủng khiếp bao trùm lấy con tàu. Buộc nhiều hành khách phải trốn mình trong khu vực để chuồng gà. Ban đêm họ không chịu ra ngoài đi vệ sinh mà tiêu tiểu luôn tại chỗ. Sáng hôm sau, thủy thủ đoàn không ngừng kêu la vì hôi hám.
Các hoa tiêu vẫn hằng ngày tiếp tục quan sát biển để xác định vị trí tàu trên hải đồ.
Ngày 24/11, họ đã đi khỏi Manila được 10.556km (5.700 hải lý).
Ngày 1/12, người chết đầu tiên trên tàu là 1 thủy thủ vì mắc bệnh scurvy (bệnh thiếu vitamin C). Sau 156 ngày lênh đênh trên biển, anh ta là người đầu tiên tử nạn.
Họ quấn cái xác lại và buộc vật nặng vô chân, rồi thả xuống biến. Ai cũng tuyệt vọng.
3 ngày sau, 1 thủy thủ phát hiện có vật trôi nổi trên mặt nước, nhìn giống cọng hành khổng lồ. Những người trên tàu tin rằng họ sắp tới được đất liền.
Tiền bạc lúc này không còn quan trọng nữa nên hành khách thưởng cho thủy thủ vớt được “cọng hành” rất hậu hĩnh. Riêng thuyền thưởng cho anh ta 1 sợi dây chuyền bằng vàng.
Khoảng chiều tối ngày 14/12, hòn đảo Santa Catherine gần bờ biển California đã hiện ra trên ống nhòm.
Vài ngày sau đó thêm 2 người nữa chết vì bệnh berben (thiếu vitamin B1) là 1 phụ lái và phó thuyền trưởng. Thủy thủ đi biển dài ngày rất sợ 2 căn bệnh đó là scurvy (thiếu vitamin C, còn gọi là bệnh Hà Lan) và bệnh berben (thiếu B1).
Bị scurvy khiến cơ thể họ sưng phù, miệng và nướu hoại tử gây rụng răng, da thì chảy máu, cuối cùng là tổn thương não và chết trong trạng thái mê sảng.
Ngày Noel, họ cùng nhau cử hành thánh lễ, phía xa là mũi Saint Luke ở Baja, California ngày nay.
Hôm sau, tất cả mọi người trên tàu được phát súng để tự vệ khi họ đã tới ngoài khơi California. Thời đó tàu chiến của Anh và cướp biển thường xuyên tuần tra khu vực này để cướp bóc của tàu galleon, vốn chở nhiều hàng hóa quý giá.
Hải cẩu, người TBN gọi là lobillos de mar, xuất hiện đầy trên mặt biển.
Thủy thủ thả chiếc thuyền nhỏ xuống và họ cùng nhau bắt được 7 con rùa biển để cứu đói.
Từ xa, mọi người nhìn thấy bờ biển. Khi Mặt trời lặn, chiếc galleon bắn đại bác lên trời để thông báo với đất liền rằng họ tới trong hòa bình. Không có tiếng đáp lại.
Khi tàu tới đây là vùng nhiệt đới, nhiều người trên tàu đổ bệnh vì nhiệt độ đang từ lạnh thành nóng. Biển thì tĩnh lặng kì lạ và trời thì đứng gió, con thuyền hầu như không thể đi được.
Ngày 14/1 họ quyết định thả neo sau nhiều tháng cất giữ. Lúc này chiếc thuyền cách bờ khoảng 1km. Chiếc thuyền nhỏ tiếp tục được thả xuống để đi vô bờ tìm nước ngọt.
Thứ Sáu ngày 18/1. Khi tới cảng Acapulco, sức khỏe của thuyền trưởng nguy kịch vì bị bệnh berben và scurvy.
Mọi người rất vui mừng khi thấy một chiếc ghe nhỏ chở theo bánh mì, chanh, thịt heo và gà ra tiếp tế cho mình. Số hàng hóa này có thể là quà tặng của thị trưởng Don Francis de Mecca vùng ven biển.
Ngày 20/1, họ đã đi được tổng cộng 9.000 hải lý sau gần 7 tháng rời Manila.
Những người còn sống sót ôm nhau và vui mừng khi đến được đích, họ đã trải qua 204 ngày lênh đênh trên biển.
Bài thánh ca Te Deum được xướng lên để mừng chuyến tàu cập bến, lâu đài Acapulco bắn 7 phát đại bác để chào mừng họ trở về.
HẾT…
Xem lại Phần 1: Chiếc thuyền Trung Quốc, giao thương toàn cầu và sự ra đời của đồng đôla.
Theo scmp, scmp
