Anh em mê nhiếp ảnh chắc không lạ gì câu chuyện f-stop với T-stop nữa. Nhưng hai khái niệm đó, chí ít là trong môi trường người mê nhiếp ảnh hay những người làm nội dung số, những content creator, càng lúc chúng càng trở nên nhạt nhoà.
Lý do cơ bản cũng nhiều, nhưng hai lý do chủ yếu là như thế này. Đầu tiên, máy ảnh số hybrid giờ không còn là thứ phải phân chia rành rọt f-stop và T-stop như cái thời chụp ảnh và làm phim bằng phim nhựa nữa. Và thứ hai, câu chuyện T-stop nó lại là thứ dành riêng cho các nhà làm phim điện ảnh, chứ không phải 99% anh em đang đọc bài này hoặc xem video clip ở trên.
Nhưng trường hợp của Leitz Hektor mới ra mắt, cũng như vô vàn những bộ ống kính khẩu T thay vì khẩu f ra mắt trong những năm qua, bỗng nhiên anh em chơi máy ảnh số, các nhà sáng tạo nội dung hay những nhà làm phim lại có thêm lựa chọn ống kính phù hợp với body máy ảnh hybrid đương đại, phù hợp với sức mạnh của những cỗ máy càng lúc càng phục vụ tốt nhu cầu làm nội dung.
Lý do cơ bản cũng nhiều, nhưng hai lý do chủ yếu là như thế này. Đầu tiên, máy ảnh số hybrid giờ không còn là thứ phải phân chia rành rọt f-stop và T-stop như cái thời chụp ảnh và làm phim bằng phim nhựa nữa. Và thứ hai, câu chuyện T-stop nó lại là thứ dành riêng cho các nhà làm phim điện ảnh, chứ không phải 99% anh em đang đọc bài này hoặc xem video clip ở trên.
Nhưng trường hợp của Leitz Hektor mới ra mắt, cũng như vô vàn những bộ ống kính khẩu T thay vì khẩu f ra mắt trong những năm qua, bỗng nhiên anh em chơi máy ảnh số, các nhà sáng tạo nội dung hay những nhà làm phim lại có thêm lựa chọn ống kính phù hợp với body máy ảnh hybrid đương đại, phù hợp với sức mạnh của những cỗ máy càng lúc càng phục vụ tốt nhu cầu làm nội dung.
Năm 2008, CW Sonderoptic được tiến sĩ Andreas Kaufmann thành lập, một công ty “chị em” với Leica Camera AG. Cái tên này, cũng có trụ sở tại Wetzlar, CHLB Đức, được thành lập để tạo ra những ống kính phục vụ thị trường điện ảnh cao cấp, nơi mà Zeiss, Cooke, ARRI, Angenieux hay Panavision ngự trị. Tới năm 2018, CW Sonderoptic được đổi tên thành Leitz Cine Wetzlar.
Đương nhiên rằng thì mà là, phim hay, hoặc phim đoạt giải đều phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, quan trọng nhất rõ ràng là diễn xuất của các diễn viên, tài năng của đạo diễn, và tài năng của đạo diễn hình ảnh, cùng vô vàn những thứ khác. Nhưng cùng lúc anh em có lẽ cũng nên đồng ý rằng, ý đồ nghệ thuật sẽ chỉ khả thi nếu trang thiết bị đáp ứng được yêu cầu của người nghệ sĩ.
Đấy là lúc có thể liệt kê ra vài tác phẩm đã sử dụng ống kính của Leitz Cine: The Boys của Amazon quay bằng Leitz Summilux-C. Green Book và The Revenant, hai tác phẩm được đề cử, rồi thu về không ít giải Oscar cũng vậy… Vô vàn những tác phẩm khác có thể kể ra: The Substance, Birdman, Mank, Bad Boys: Ride or Die,…
Nhưng, tất cả những ví dụ trên đây đều sử dụng những bộ ống kính ngàm PL do ARRI phát triển, hay sau này là LPL, tiêu chuẩn mới cho điện ảnh kỹ thuật số đương đại, khi mọi người chuyển từ phim Super 35 lên cảm biến full frame.
Còn Hektor là một giải pháp khác, phù hợp hơn với các nhà làm phim muốn một thứ gì đó gọn gàng, nhẹ nhàng hơn, nhưng cùng lúc giữ được cái chất điện ảnh đầy duyên dáng và cổ điển.
Nhưng mà xin phép nhắc lại với anh em, là nhẹ hơn, gọn gàng hơn, chứ không phải rẻ đâu nhé. Cả bộ 6 ống kính Hektor vẫn có giá 1.1 tỷ Đồng ở thị trường nước ngoài. Còn ở Việt Nam thì mình chưa nắm được giá chính thức mua từ Leica Boutique.
Quảng cáo
Giờ là lúc nhắc lại câu chuyện khẩu f hay khẩu T này. Cả 6 chiếc ống kính Hektor, tiêu cự cố định đều có khẩu độ cố định, T2.1. Thế T2.1 khác gì f/1.8 hay f/1.4?
Khẩu độ f là con số có thể tính toán lý thuyết được, cứ lấy tiêu cự ống kính chia cho đường kính khẩu độ là ra thôi. Chẳng hạn 50mm, đường kính khẩu 25mm, thì là f/2. Đường kính khẩu khoảng 41.67mm thì là f/1.2…
Còn khẩu độ T thì phức tạp hơn, không phải cứ làm đúng công thức tiêu cự và đường kính khẩu độ là xong, vì khẩu T cần phải đo đạc chính xác hiệu suất truyền dẫn ánh sáng qua ống kính. Để ra con số T-stop, cần lấy f-stop chia căn bậc hai của hiệu suất truyền dẫn ánh sáng.
Mà chính cái tên f, viết tắt của focal length và T, transmission, cũng đã mô tả chính xác hai giá trị này có tầm quan trọng như thế nào rồi. Với f-stop, anh em sẽ ước lượng được độ sâu trường ảnh khi anh em chụp. Còn với T-stop, các nhà làm phim, các đạo diễn hình ảnh sẽ biết chính xác lượng ánh sáng lọt qua ống kính, và những con số này trên mọi ống kính đều phải đồng nhất.
Quảng cáo
Tại sao lại thế? Hậu kỳ là một quá trình khổ sở. Sử dụng nhiều ống kính với tiêu cự khác nhau, trong môi trường khác nhau, trong nhiều khoảng thời gian và nhiều ngày khác nhau, không có giá trị T-stop, biên tập viên hậu kỳ sẽ rất vất vả và tốn kém đề cân bằng ánh sáng trong nhiều cảnh quay khác nhau.
Nhưng với anh em làm nội dung mạng xã hội, đó không phải vấn đề, nên cứ lấy ống khẩu f quay video thôi. Hậu kỳ thì đơn giản hơn, một clip vài phút đến nửa tiếng chứ không phải một tác phẩm điện ảnh dài hai tiếng.
Còn Leitz Hektor thì giải quyết vấn đề ấy cho các nhà làm phim sử dụng những thiết bị ở phân khúc prosumer, hoặc cần một ống kính gọn gàng cho những ngàm ống kính hiện đại. Đấy chính là lý do vì sao Hektor không phải một giải pháp sử dụng ngàm PL truyền thống, hay LPL hiện đại cho cảm biến full frame. Bản thân ống kính hoàn toàn có thể đổi ngàm.
Chẳng hạn như ví dụ của mình trên tay mấy chiếc ống kính đó ở Leica Boutique hôm vừa rồi, năm con ốc vít cố định ngàm Leica L mount. Muốn chuyển qua ngàm E của Sony, ngàm RF của Canon, ngàm Z của Nikon hay thậm chí là ngàm G của Fujifilm GFX, tháo ngàm ra đổi là xong. Cực kỳ tiện.
Và một bộ ống kính có thể dùng với vô vàn những chiếc máy ảnh mirrorless hybrid hay những máy quay full frame hiện giờ. Như ví dụ của mình là Leica SL2S, quay L-Log 10-bit 4:2:2. Nhưng muốn dùng Hektor trên Sony FX3, Nikon ZR hay Canon C50? Thoải mái.
Nhưng mà đương nhiên ống kính này nếu anh em xem trong clip, đấy hoàn toàn không phải môi trường hoàn hảo để ứng dụng ống kính này tới mức tối đa. Hai bánh răng cỡ lớn, một chỉnh khẩu độ, một chỉnh khoảng cách lấy nét là thứ để các nhà làm phim và nhân sự các dự án lắp hệ thống Follow Focus, rồi giao cho những nhân sự gọi là Focus Puller làm việc. Hoặc nếu là một nhà làm phim độc lập, làm việc một mình, thì những hệ thống hỗ trợ lấy nét tự động bằng LiDAR chẳng hạn, chúng sẽ là những giải pháp để anh em tin tưởng.
Đó là lý do vì sao mọi ống Hektor đều lấy nét tay, và không có chip gửi thông số tiêu cự và khẩu độ về máy.
Cái đáng nể nhất khi trải nghiệm Hektor trong vài giờ đồng hồ ngắn ngủi của mình, là như thế này. Bất chấp việc sở hữu gần như đầy đủ những tiêu cự mà các nhà làm phim cần, không một ống kính nào trong dàn 6 chiếc Hektor có trọng lượng vượt qua ngưỡng 1 kg. Nhẹ nhất là 50mm, chỉ có 660 gram. Nặng nhất là 100mm, 970 gram.
Làm được điều này khẳng định là không dễ. Thứ nhất, để có được khẩu độ T cố định, mọi thứ bên trong phải hoàn hảo về mặt quang học. Độ trong suốt của các thấu kính, khả năng triệt tiêu quang sai và sai màu, rồi trọng lượng của những thấu kính được sản xuất một cách chính xác như vậy đều là những yếu tố có liên quan. Cũng là T2.1, nhưng Elsie của Leitz có trọng lượng từ 2 tới 2.5 kg cơ.
Và hầu hết những ống kính điện ảnh cũng đều có kích thước và trọng lượng đáng sợ. Đôi khi một cái ống tiêu cự chỉ có 25mm, T1.4, nhưng kích thước chẳng thua gì mấy cái ống 70-200mm của anh em chụp hình, trọng lượng thì có khi phải gấp đôi.
Đấy chính xác là thứ khiến Hektor trở nên ấn tượng trong mắt các nhà làm phim trẻ.
Vậy thì hình ảnh thì sao? Anh em hãy tưởng tượng những thước phim xưa cũ. Loá sáng được kiểm soát để thêm cảm xúc cho những khung hình. Bokeh mịn màng, hơi xoáy, thứ mà rất nhiều nhà làm phim tìm kiếm ở những ống kính cũ kỹ như Helios 44-2. Tông màu thiên ấm áp. Mà thôi, ngắn gọn lại anh em hãy tưởng tượng một đoạn phim ngắn ghi lại hình ảnh mùa hè nước Pháp. Đấy chính xác là những gì Hektor có thể đem lại: Cảm xúc trong từng frame hình.
Chí ít thì đấy là những gì mình cảm nhận được, ở cái thời điểm ngắn ngủi mình được trải nghiệm quay thử với Leitz Hektor.
Còn trong bàn tay của người chuyên nghiệp, thì Hektor làm ra được những tác phẩm như thế này. Mình lấy ví dụ video do chính Leica chia sẻ, quảng bá chiếc máy Leitz Phone:
Còn đây là BTS của clip trên:
Anh em để ý mình nhấn mạnh câu chuyện cảm xúc nhé. Hektor không phải những chiếc ống kính nét và chính xác nhất về mặt quang học cũng như màu sắc. Đấy là công việc của Leitz Prime. Hektor, trong bàn tay của nhiều nhà làm phim, chắc chắn sẽ được tận dụng khả năng kỹ thuật tới mức tối đa để truyền sự sáng tạo, ý đồ nghệ thuật và cảm xúc vào những khung hình.
Quan trọng hơn, ở trên mình nói Hektor không rẻ, là nếu so sánh với ống kính nhiếp ảnh. Còn với ống kính điện ảnh, hơn 1 tỷ cho 6 cái ống kính từ một nhà sản xuất không thiếu cả tên tuổi, kinh nghiệm cũng như sức hút thì nó lại là rẻ.
Leitz Summilux-C có giá từ 39 tới 47 ngàn USD cho một ống, một thôi nhé. Mà cái ống đấy cũng chỉ có đường kính thu hình phù hợp với format Super 35, bé hơn cả Full Frame. Tương tự, Leitz Prime cho full frame cũng có giá dao động từ 42 tới 45 ngàn USD cho mỗi ống cơ.
Cơ bản chỉ nói được về hai thứ, tại sao lại là T stop, và tại sao Hektor là lựa chọn cầu nối giữa ống kính nhiếp ảnh hoặc ống thiên về video nhưng khẩu f, với những ống kính điện ảnh đắt tiền, đơn giản vì mình đâu có làm phim. Chất lượng hình ảnh, chất lượng quang học và độ bền của những ống kính này chắc chắn không cần bàn. Nhưng trọng lượng và mức giá có thể sẽ là thứ thu hút một số người.
Và suy cho cùng, bài này cũng chỉ để anh em làm quen với một món đồ chơi lạ, thứ mà chắc chắn tuyệt đại đa số chúng ta sẽ không bao giờ cần tới.
