Anh em có thể để ý từ ngữ mà Apple sử dụng khi giới thiệu M5 Pro và M5 Max, khi họ ra mắt những chiếc MacBook Pro thế hệ mới hồi đầu tuần.
Trong lần nâng cấp toàn diện dòng MacBook Pro mới nhất, Apple không chỉ đơn thuần tung ra phần cứng với hiệu năng nhanh hơn. Việc ra mắt chip M5 Pro và M5 Max đã mang đến một sự thay đổi tinh tế nhưng quan trọng trong thiết kế CPU của Apple, và cả ngôn ngữ được sử dụng để mô tả nó. Những gì từng là hệ thống phân cấp quen thuộc giữa các nhân "performance" và "efficiency" đã được định hình lại.
Thế hệ chip xử lý M5 đã giới thiệu một kiến trúc nhân CPU “super core” mới.
Apple không chỉ đơn thuần tung ra phần cứng nhanh hơn. Việc ra mắt chip M5 Pro và M5 Max đã mang đến một sự thay đổi tinh tế nhưng quan trọng trong thiết kế CPU của Apple, và cả ngôn ngữ được sử dụng để mô tả nó. Những gì từng là hệ thống phân cấp quen thuộc giữa các nhân performance và efficiency đã được định hình lại.
Trong lần nâng cấp toàn diện dòng MacBook Pro mới nhất, Apple không chỉ đơn thuần tung ra phần cứng với hiệu năng nhanh hơn. Việc ra mắt chip M5 Pro và M5 Max đã mang đến một sự thay đổi tinh tế nhưng quan trọng trong thiết kế CPU của Apple, và cả ngôn ngữ được sử dụng để mô tả nó. Những gì từng là hệ thống phân cấp quen thuộc giữa các nhân "performance" và "efficiency" đã được định hình lại.
Thế hệ chip xử lý M5 đã giới thiệu một kiến trúc nhân CPU “super core” mới.
Apple không chỉ đơn thuần tung ra phần cứng nhanh hơn. Việc ra mắt chip M5 Pro và M5 Max đã mang đến một sự thay đổi tinh tế nhưng quan trọng trong thiết kế CPU của Apple, và cả ngôn ngữ được sử dụng để mô tả nó. Những gì từng là hệ thống phân cấp quen thuộc giữa các nhân performance và efficiency đã được định hình lại.
Bây giờ, nhân performance trong những con chip M5 nằm giữa những nhân super core và những nhân efficiency, dựa trên sức mạnh xử lý, kích thước nhân và xung nhịp. Lấy ví dụ, M5 giờ có 4 nhân super core, và 6 nhân efficiency core. Còn M5 Max thì có 12 nhân super core và 12 nhân performance.
Apple mô tả các nhân performance này vẫn rất tiết kiệm điện năng nhưng có khả năng xử lý đa luồng tốt hơn đáng kể. Tên gọi mới của chúng cho thấy sự cân bằng lại giữa việc tiết kiệm điện năng và mục tiêu duy trì hiệu suất điện toán ổn định.
Thay vì chỉ là một sự điều chỉnh từ ngữ marketing đơn thuần, thì thực sự, thế hệ chip xử lý M5 có ba kiến trúc nhân CPU khác nhau.
Giống như hầu hết các CPU hiện đại khác, các chip dòng M trước đây thường phân định rõ ràng hơn: Các nhân performance thực hiện các tác vụ nặng, và các nhân efficiency xử lý các tác vụ nền hoặc khối lượng công việc nhẹ. Cách tiếp cận mới của M5 thu hẹp sự khác biệt đó, tạo ra một lớp trung gian có thể xử lý các quy trình nặng hơn mà không cần phải mở rộng hoàn toàn đến các “super core” ngốn nhiều điện.
Đằng sau tên gọi của chúng, là mục tiêu ở khía cạnh kỹ thuật. Các kỹ sư của Apple từ lâu đã nhận thức được rằng các nhân efficiency đôi khi được coi là mắt xích yếu hơn. Trên thực tế, chúng luôn mang lại tỷ suất hiệu năng trên mỗi watt điện rất cao, nhưng vai trò của chúng thường có xu hướng bị lu mờ bởi sự hiện diện của những nhân xử lý chính, sức mạnh ấn tượng hơn.
Với thiết kế mới, Apple dường như rất muốn định hình lại điều đó. Việc phân loại lại nhấn mạnh sự tương đồng hơn là thứ bậc, một sự thừa nhận rằng các nhân xử lý phụ trong hai phiên bản chip M5 Pro và Max không còn chỉ dành riêng cho các tác vụ nhẹ nữa.
Đương nhiên, bản nâng cấp kiến trúc này không chỉ đơn thuần là thuật ngữ. Thế hệ chip xử lý M5 giới thiệu Kiến trúc Fusion của Apple, một phương pháp đóng gói đa chip liên kết nhiều khối silicon trong một package chip xử lý duy nhất.
Quảng cáo
Trên thực tế, điều đó có nghĩa là Apple có thể mở rộng thiết kế chip trên các cấp sản phẩm khác nhau mà không làm tăng đáng kể kích thước của một die monolithic duy nhất. Các mẫu M5 Pro và Max minh họa lợi ích này: Chúng có cấu trúc CPU chung nhưng khác nhau về cấu hình GPU: 20 nhân trên phiên bản Pro và 40 nhân trên phiên bản Max.
Cái này có vẻ giống như Intel với kiến trúc chip xử lý lắp ghép của họ.
Thay vì tạo ra một die monolithic khổng lồ, Apple có thể xây dựng bộ xử lý từ các khối silicon được kết nối với nhau, mở rộng tài nguyên tính toán và đồ họa khi cần thiết. Cách tiếp cận này tương tự như các chiến lược được sử dụng bởi AMD, Intel, và các nhà thiết kế chip khác, mặc dù mức độ tích hợp của Apple vẫn được kiểm soát ngành dọc, trên cả phần cứng và phần mềm.
Đối với anh em, là những người dùng, thì lợi ích sẽ không rõ rệt nếu so sánh tới lợi ích mà Apple có thể có được.
Đóng gói chip xử lý dạng module có thể cho phép ra mắt những thế hệ chip xử lý mới nhanh hơn, tỷ lệ chip đạt chuẩn cao hơn, và chuyển đổi tốt hơn cho những sản phẩm trong tương lai, M5 Ultra chẳng hạn. Rồi cũng nhờ đó, hoàn toàn có khả năng iPhone, iPad và Mac có thể chia sẻ chung một kiến trúc nhân chip xử lý đồng nhất, nhưng được đóng gói để phù hợp với từng sản phẩm.
Quảng cáo
