Long Hoa lược truyện

Annurago
31/12/2023 1:8Phản hồi: 144
144 bình luận
Chia sẻ

Xu hướng

66. QUỐC GIÁO, QUỐC ĐẠO
Trong khóa học đặc biệt có nhiều vị Tôn Sư giảng về Truyền Thống Anh Linh Dựng Nước Giữ Nước Văn Hóa Cội Nguồn. Trong đó Tôn Sư Hạnh Thông giảng về Quốc Giáo, Quốc Đạo.
Tôn Sư Hạnh Thông nói: Thưa bổn đạo Hội Viên, Thành Viên, Đạo Viên, hôm nay là khóa học đặc biệt dành riêng những gì thắc mắc những gì Hội Viên, Thành Viên, Đạo Viên hỏi Thầy sẽ cố gắng trả lời theo những gì Thầy biết.
Khi ấy có một người Hội Viên nổi tiếng tên là Văn Chủng đứng lên chắp tay hướng về đức Tôn Sư Hạnh Thông thưa hỏi rằng.
Thưa Đức Tôn Sư: Sao gọi là Quốc Đạo, Quốc Giáo chánh thống. Nếu lấy Thiên Chúa, Phật Giáo, Khổng Giáo làm Quốc Giáo Quốc Đạo, có được gọi là Quốc Đạo Quốc Giáo chánh thống không?
Đức Tôn Sư Hạnh Thông trả lời rằng; Quốc Giáo Quốc Đạo chánh thống phải là lời dạy Quốc Tổ về Đạo đi đôi với truyền thống anh linh dựng nước giữ nước. Còn nếu lấy Phật Giáo, Thiên Chúa, Khổng Giáo, không phải là lời dạy Quốc Tổ cũng như không dính dáng gì đến Truyền Thống Anh Linh Dựng Nước Giữ Nước Dân Tộc Việt Nam thời không gọi là Quốc Giáo, Quốc Đạo chánh thống được.
Còn như ai đó lấy Thiên Chúa, Phật Giáo, Khổng Giáo làm Quốc Đạo, Quốc Giáo. Bắt Dân Tộc Việt Nam con cháu Tiên Rồng cúi đầu quỳ lạy. Là những người phản bội lại Cội Nguồn chà đạp lên Anh Linh Quốc Tổ. Những người ấy không xứng đáng để cho con cháu Tiên Rồng tôn vinh ca ngợi. Cũng như không xứng đáng kế thừa di chí Quốc Tổ lãnh đạo đất nước. Mà xem như kẻ lạc Nguồn lạc Cội.
Phật Giáo sanh ra trên đất nước Ấn Độ, Thiên Chúa sanh ra từ Do Thái. Khổng Giáo sanh ra từ Trung Quốc. Không phải phát nguồn từ đất nước Việt Nam. Dù cho phát nguồn từ đất nước Việt Nam nhưng không phải lời dạy Quốc Tổ không liên quan gì đến truyền thống anh linh dựng nước giữ nước, thời không thể gọi là Quốc Giáo Quốc Đạo được. Mà chỉ gọi là Tôn Giáo, Đạo Giáo hội nhập mà thôi.
Vì thế Chính quyền cho phép hoạt động thời hoạt động, không cho phép hoạt động, là không được hoạt động. Vì đất nước Việt Nam không phải là đất nước của các Tôn Giáo, Đạo Giáo. Nên các Tôn Giáo, Đạo Giáo không có quyền định đoạt vận mệnh đất nước Việt Nam cũng như Dân Tộc Việt Nam. Mà chỉ có nền Quốc Giáo, Quốc Đạo Chính Thống Việt Nam mới có Quyền dẫn dắt Dân Tộc Việt Nam cũng như bảo vệ và giữ gìn Non Sông Tổ Quốc đất nước Việt Nam.
Huống chi Phật Giáo, Thiên Chúa, Khổng Giáo không phải ra đời trên đất nước Việt Nam.
Ở vào thời mạc pháp do Văn Hóa Cội Nguồn thất truyền nên những vị vua nào đó tôn thờ Phật Giáo, Đạo Giáo, Tôn Giáo, thời Đạo Giáo, Tôn Giáo đó chỉ thịnh hành theo xu thế giai đoạn lịch sử nhất thời không thể gọi là Quốc Giáo, Quốc Đạo chánh thống muôn năm được.
Ngay cả Phật Giáo sanh ra trên đất nước Ấn Độ cũng không trở thành Quốc Đạo Quốc Giáo được. Huống chi trên đất nước Việt Nam không phải là nơi Phật Giáo ra đời.
Tóm lại: Các Đạo Giáo, Tôn Giáo khó mà trở thành Quốc Đạo, Quốc Giáo Chính Thống Đại Việt, vì không phải do ông Quốc Tổ truyền lại.
Các Tôn Giáo, Đạo Giáo Họ không tôn thờ Quốc Tổ thời lấy đâu ra Quốc Đạo Quốc Giáo Chính Thống. Họ chỉ là những Tôn Giáo Đạo Giáo du nhập qua ở nhờ ở đậu trên đất nước Việt Nam mà thôi.
Những chính quyền chân chính tiếp nối Ông Cha Tôn Thờ Quốc Tổ bảo vệ và giữ gìn đất nước. Với Chính Quyền Chân Chính như vậy. Có quyền cho các Tôn Giáo, Đạo Giáo hoạt động, đúng theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Việt Nam cho phép. Hoặc không cho hoạt động khi những Tôn Giáo, Đạo Giáo đi ngược lại Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Dân Tộc. Có thể cấm hẳn truyền giáo trái phép trên đất nước Ông Cha của họ. Đúng theo Thiên Luật Vũ Trụ, cũng chính là Thiên Ý của Đức Cha Trời.
Chẳng hạn như Dân Tộc Việt Nam có ông Quốc Tổ rõ ràng đã có hơn năm nghìn năm Văn Hiến. Con cháu Việt Nam đã đi vào Quốc Tổ, Quốc Giỗ, Quốc Lễ, nay có Văn Hóa Cội Nguồn chính là Quốc Giáo nhà nhà tôn thờ Quốc Tổ đi vào Quốc Đạo.
Như vậy Quốc Giáo, Quốc Đạo, Quốc Tổ, Quốc Giỗ. Quốc Lễ chính là Đại Đạo Vũ Trụ, trên trái địa cầu nầy duy nhất chỉ có trên Dân Tộc Việt Nam đất nước Việt Nam có một không hai trên thế giới.
Có thể nói chỉ có Việt Nam mới có Quốc Giáo, Quốc Đạo, Chính Thống đi vào bất diệt muôn năm. Việt Nam Quốc Tổ, Việt Nam Quốc Giỗ, Việt Nam Quốc Lễ, Việt Nam Quốc Giáo, Việt Nam Quốc Đạo. Không riêng cho cá nhân nào mà cho cả Dân Tộc Việt Nam con cháu Tiên Rồng.
Tất cả Dân Tộc Việt Nam con cháu Tiên Rồng đều là Hội Viên, Thành Viên, Đạo Viên, của nền Quốc Giáo Quốc Đạo Việt Nam.
Chỉ trường hợp những người bỏ Cội bỏ Nguồn không tôn thờ Quốc Tổ, tuy họ được sanh ra trên đất nước Việt Nam, nhưng họ không phải là người Việt Nam vì họ đã chối bỏ Cội Nguồn của họ. Người Họ tôn thờ không phải là người dựng nước, không liên quan gì đến Nguồn Cội của Dân Tộc Việt Nam.
Nước Việt Nam tuy nhỏ, nhưng lại đứng đầu cả năm châu về nền Quốc Giáo, Quốc Đạo, Quốc Tổ, Quốc Giỗ, Quốc Lễ. Đây là niềm tự hào của Dân Tộc Việt Nam con cháu Tiên Rồng chúng ta. Cả hội trường im lặng lắng nghe Đức Tôn Sư Hạnh Thông giảng về Quốc Giáo, Quốc Đạo Chính Thống làm sống lại tinh thần Dân Tộc bừng bừng đơm hoa kết quả giác ngộ.
Thì ra Quốc Giáo, Quốc Đạo chánh thống là như vậy.
67. BÁT CƠM CHAN CÁT
Ở vào thời niên đại Hùng Vương đến thời Hùng Quí Lân lên ngôi Quốc Vương trị vì thiên hạ đời thứ hai sau Quốc Tổ. Bách Việt Văn Lang dân giàu nước mạnh thái bình an lạc âu ca, ngủ không đóng cửa, không người ăn trộm vắng bóng ăn cướp. Tất cả đều sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Dân Tộc công bằng bình đẳng văn minh tự do mưu cầu hạnh phúc.
Khi ấy ở Thôn Lạc Thượng, Huyện Trung Điền Tây Châu, có một gia đình giàu nhưng phải nổi sanh thằng con bất hiếu phải nói là nghịch tử tên là Cơm. Quan niệm người Bách Việt Văn Lang trên đời không gì quý bằng cơm, hạt cơm nuôi sống mạng con người giàu mà không có gạo cơm thời giàu ấy coi như bỏ, đúng thế vàng đâu thể ăn được khi chết đói đến nơi, bạc dù chất cao như núi nhưng thiếu cơm gạo thời cũng đi đời, khi lúc đói xảy ra thời mới thấy vàng bạc, không bằng cơm.
Cha của Cơm là Ông Bát, Ông Bát thương yêu con hơn sanh mạng của mình, những món nào ngon Ông thường nhường lại cho Cơm. Ông chỉ ăn cọng rau cứng còn cọng rau non Ông để lại cho Cơm. Ông nhường cho Cơm ngủ trên chiếc giường cao sang còn Ông nằm trên chiếc giường tre cũ kỹ. Ông sợ Cơm cực khổ nên những công việc khó nhọc Ông đều tự mình làm tất cả.
Cơm cả ngày ăn chơi không lại không biết thương Cha thường cho Ông là người dại khờ nhiều khi nặng lời với Ông, Ông không lấy đó làm giận vì nghĩ con mình còn nhỏ nên chưa nhìn ra tấm lòng của Ông thương con hết mực cái gì cũng để cho nó hơn mình hi sinh đời Bố củng cố đời con, mong sau nầy con hơn cha là nhà có phúc. Sự hi sinh của Ông càng ngày càng đi vào tuyệt vọng vì Cơm càng lớn càng coi Ông không ra gì.
Ông thường than rằng Bát thời rất tốt, nhưng Cơm chan cát không còn hi vọng gì nữa, nghĩ mình càng ngày càng già càng yếu, bé cậy Cha già cậy Con. Nhưng Cơm đã pha cát không thể nào nhờ vào Cơm ấy được nữa. Ông càng nghĩ càng thêm tuyệt vọng. Nhưng đã là con bỏ nó thời đau đớn nát lòng còn bám theo nó thời chỉ có khổ tiền mất tật mang không nhờ cậy được vào đâu, vì nỗi buồn gặm nhấm Ông trở nên mau già như ngọn đèn trước gió không biết tắt lúc nào.
Cho đến một hôm Ông biết mình sắp mất liền kêu Cơm đến nói Cha sắp đi xa sợ con đói bát cơm đấy con ăn đi.
Cơm nhìn bát cơm có trộn với cát tức thời sừng sộ nói, Cha càng ngày càng già nên điên mất tới nỗi bát cơm phải trộn cát thế nầy thời làm sao ăn được thương con cái kiểu gì vậy.
Cơm liền bưng bát cơm lên đổ đi rồi ném luôn cái bát còn nói tiếc thật phải chi cơm không trộn cát thời hay biết mấy.
Ông liền nói đó là không phải bát cơm trộn cát mà là bát cơm chan cát đấy con.
Ông nói Cha là Bát chỉ có mình con là Cơm nhưng Cơm của Cha đã chang cát. Tánh bất hiếu của con khác gì là cát Cha không nuốt nỗi những lời phỉ báng của con biết rằng Cha rất quý con và yêu thương con nhưng tánh bất hiếu của con như cát nếu đổ đi thời thấy tiếc còn không đổ đi thời Cha không còn chỗ để nương thân vào con được.
Sự buồn phiền của Cha mỗi ngày mỗi trần trọng dẫn đến lâm trọng bệnh sắp ra đi xa người con Cha yêu quý. Bát thời tốt nhưng Cơm thời pha cát.
Chính bản thân con còn không chấp nhận cơm chang cát, huống chi là Cha cũng giống như tánh của con mà thôi.
Nhưng Cha khác hơn con là không đành đổ nó đi mà ngày ngày nhìn cơm chay cát nước mắt tuôn rơi. Nay con không những đổ cơm chay cát vì dùng không được. Còn ném luôn cái Bát bể nát tan tành, thời còn Bát đâu nữa mà đựng Cơm. Cha còn ở lại nơi đây nữa để làm gì đi đến một nơi rất xa từ biệt con, Ông nói xong thời từ biệt cõi trần.
Cơm như chợt hiểu ra vô cùng hối hận nhưng đâu còn kịp nữa mọi việc đã trễ rồi vì cái bát mình đã đập bể rồi và người Cha cũng đã ra đi.
Cơm lượm những mảnh vỡ của cái Bát cầm trên tay mà cảm thấy lòng đau đớn. Nhất là cảm thấy bơ vơ trơ trọi một mình. Ngày nào Cơm cũng lượm những mảnh vỡ cái cái Bát rồi nhìn sững thốt lên bát cơm chan cát, bát cơm chan cát. Cơm nhìn những hạt cơm dính cát mà lòng nghẹn ngào Cha làm sao nuốt nổi những hạt cơm như thế, những hạt cơm tuy quý nhưng không còn giá trị ăn vào không được bỏ đi thời tiếc. Thế mà người Cha vẫn chịu đựng theo năm tháng già đi trước tuổi vì chịu đựng quá mức sanh bệnh rồi lìa bỏ cõi trần, để lại người con bất hiếu bơ vơ. Người con chỉ biết ăn chơi không làm nên trò trống gì cả.
Càng nghĩ Cơm càng hối hận đau khổ hết tháng nầy sang tháng khác Cơm kiệt sức qua đời hóa ra con chim Cát đi tìm người Cha khắp núi rừng non sông biển cả với những tiếng kêu thảm thiết trong cảnh tuyệt vọng cô đơn cả ngày lẫn đêm. Bát Cơm chan Cát, Bát Cơm chan Cát, Bát Cơm chan Cát, lang thang hết nơi nầy đến nơi khác.
68. NGƯỜI CON GÁI THÔNG MINH
Ở vào thời cuối Thượng Hùng Vương, đến thời Hùng Dịch Lang đời thứ 23.
Ở xã Cao Sơn, Huyện Sơn La có cặp vợ chồng thương gia làm ăn giàu có gia đình Ông Nhạ, sinh được một cô con gái xinh đẹp, không những xinh đẹp lại rất thông minh cô tên là Cẩm Nhung. Vì sự thông minh của cô nên cha cô thường dẫn cô đi theo để cô bày mưu tính kế giúp cha. Ông Nhạ rất tự hào về cô con gái nầy mà trời đã cho Ông.
Một hôm cô theo cha chuyển hàng đến Hải Châu trong lúc trao đổi buôn bán hàng hóa, cô vô tình quen biết một khách hàng có tài hóa trang thuật dịch dung phải nói không ai sánh nổi. Cô liền nói với Cha cô ở lại Hải Châu theo học thuật hóa trang cha cô vì không muốn đứa con yêu quý ở lại một mình, ông ở lại Hải Châu chờ cho cô con gái học xong mới trở về Cao Sơn.
Do trí thông minh khác người thiên phú của cô chỉ trong vòng một tháng là cô học sạch nghề của bà chủ. Bà chủ vô cùng kinh ngạc trước sự thông minh học một biết mười Cẩm Nhung không ai sánh kịp.
Cẩm Nhung học xong nghề hóa trang lấy làm khoan khoái, như có phép thần thông cô biến ra nhiều người mỗi người mỗi vẻ khác nhau. Ông Nhạ nhiều lúc không nhìn ra con mình khi Cẩm Nhung đã hóa trang.
Cùng lúc ấy có một gia đình nghèo nhưng nổi tiếng là tốt bụng, ai cần gì cũng giúp có lẽ vì ăn ở có đức nên vợ chồng Phúc Lương sinh được một cậu con trai khôi ngô tuấn tú tên là Phúc An lớn lên càng chất phát thật thà, nhà Ông Phúc Lương cách nhà Ông Nhạ không xa nên ngày nào Phúc An cũng đi ngang qua nhà Cẩm Nhung. Mỗi lần nhìn thấy Cẩm Nhung thời tim Phúc An rung lên dữ dội chính Phúc An cũng không hiểu vì sao vậy nữa. Phúc An thường ngẩn ngơ khi nhìn thấy Cẩm Nhung thầm nghĩ người sao mà đẹp lạ lùng nết na khôn khéo ai bì được đâu. Ước gì mình lọt mắt xanh coi như được cả mùa xuân đất trời.
Vợ chồng Phúc Lương biết con mình phải lòng Cẩm Nhung nhưng với làm sao tới nổi vì nhà Cẩm Nhung là thương gia giàu có nổi tiếng ở Cao Sơn. Cẩm Nhung tài sắc vẹn toàn được coi như là báu vật gia đình Ông Nhạ.
Phúc Lương nhìn con lắc đầu thở dài con mơ nhầm chỗ rồi thời gian cứ thế trôi qua Phúc An càng lớn càng khôi ngô tuấn tú học đâu nhớ đó nhất là có sức mạnh hơn người tìm năng bản thân là rất lớn như viên ngọc quý trong bùn, nếu gặp được duyên may Phúc An sẽ trở thành nhân tài hiếm thấy.
Nói về Cẩm Nhung có con mắt tinh đời từ lâu đã phải lòng Phúc An nhưng giai cấp giàu nghèo quá xa khó mà thành đôi thành cặp được chỉ biết chờ đấng cao xanh Ông Trời xe duyên mà thôi.
Dương quang đã lặn về tây, ông mặt trời đi ngủ màn đêm buông phủ khắp non sông, ánh trăng ngà đã lên cao lơ lửng trên nền trời, những ngọn núi xa xa như đang mang nỗi u buồn của lớp sương mờ bao phủ.
Xã Cao Sơn như lần chìm trong giấc ngủ cảnh vật im lìm, bỗng hàng loạt tiếng chó sủa trong đêm phá tan đi sự lắng yên, thay vào đó là những tiếng binh khí chạm nhau đinh tai nhức óc đến rợn người, chuyện gì xảy ra thế những tiếng quát kèm theo tiếng người ngã gục cướp cướp. Cả xóm không ai là không kinh hãi trong đó có nhà Ông Bà Phúc Lương. Nhất là Phúc An càng kinh hãi hơn nữa không hiểu số mạng gia đình Ông Nhạ ra sao.
Mới sáng sớm dân xã Cao Sơn kéo đến nhà Ông Nhạ chứng kiến cảnh gia đình Ông Nhạ kẻ ăn người ở hơn hai mươi người bị tàn sát chỉ còn sống sót một con ở xấu xí ngơ ngơ ngác ngác như kẻ tâm thần. Ông Nhạ cùng người ăn kẻ ở chết trong tư thế tay vẫn cầm kiếm chống trả lại bọn cướp, chúng đã lấy đi tất cả những gì châu báu của Ông Nhạ. Chúng còn lục soát không bỏ chỗ nào hình như đang tìm kiếm một vật chi đó. Không biết là chúng đã kiếm ra chưa.
Phúc An lòng đau như cắt lục lạo tìm kiếm thân xác Cẩm Nhung nhưng nào có thấy nghi là bọn cướp đã bắt đi rồi, bọn chúng là ai gia đình Ông Nhạ có thù hằn gì đến bọn chúng mà chúng kéo đến tàn sát như vậy.
Nghe tiếng quân binh rầm rộ kéo đến Phúc An biết là quân binh của huyện Sơn La đã đến. Quan Huyện khám nghiệm hiện trường thu thập tin tức từ nhân dân, cũng như truy tìm thủ phạm của bọn sát thủ từ đâu đến. Qua một ngày nỗ lực Quan Huyện cho quân binh thu thập tin tức manh mối lần lần hé lộ bọn chúng không phải là bọn cướp mà là giang hồ Thất Sát Ác Ma, thường xuất hiện ở miền tây bắc khét tiếng hung ác võ nghệ cao cướng quan binh khó mà truy quét được chúng.
Nhiều câu hỏi được đặc ra Ông Nhạ có liên quan gì đến bọn chúng oán thù hay còn bí mật chuyện gì khác bí mật vẫn nằm trong bí mật, không ai cho câu trả lời xác đáng, vì người nhà Ông Nhạ chẳng còn ai ngoài con ở xấu xí khờ khờ khạo khạo, hỏi gì cũng lắc đầu không biết.
Gia đình Phúc Lương chỉ biết gia đình Ông Nhạ đến Cao Sơn hơn mười năm nay, không ai rõ Ông Nhạ ở quê hương nào đến. Gia đình Phúc Lương mến mộ sự tài giỏi của Ông Nhạ, Phúc Lương nhớ rất rõ Ông Nhạ đến Cao Sơn chỉ có hai cha con với đôi bàn tay trắng thế mà Ông đã trở thành thương gia giàu có kẻ ăn người ở có hơn hai mươi người, nhưng ở đời họa vô đơn chí, phước bất trùng lai mọi chuyện đã thay đổi kiếp nạn đã xảy ra không khỏi thở dài, thế gian vô thường quả không sai họa phúc không biết đâu mà nói, với bản tánh lương thiện thường hay giúp người gia đình Phúc Lương cùng bà con trong làng chôn cất những người xấu số tử tế.
Nhất là Phúc An hết lòng tận tụy dọn dẹp nhà cửa lập bàn thờ để thờ coi gia đình Ông Nhạ cũng như gia đình của mình cô con ở xấu xí thấy Phúc An tận tình như thế không cầm được giọt nước mắt nói anh tốt với gia đình Ông Chủ tôi quá. Phúc An nói không biết Cẩm Nhung bây giờ ra sao còn sống hay đã bị chúng giết tôi sẽ trả thù cho gia đình Cẩm Nhung dù cho bọn chúng là ai.
Cô con gái xấu xí nắm lấy tay Phúc An trong lòng vô cùng xúc động anh nói thiệt chứ, Phúc An gật đầu.
Kể từ đó cô con gái xấu xí thường qua lại nhà Phúc Lương cô coi Ông Bà Phúc Lương như cha mẹ ruột của mình, Ông Bà Phúc Lương thương cô như con ruột khi biết cô bà con với Ông Nhạ kêu Ông Nhạ bằng cậu ruột.
Nói về cô con gái xấu xí tên là Hầu Nhi công, dung, ngôn, hạnh, ít người sánh kịp, bà con trong làng ai cũng cảm mến nhất là Ông Bà Phúc Lương phải lòng người con gái xấu xí nầy vì không có điểm nào để chê được, chỉ là hơi xấu mà thôi.
Cho đến một hôm Phúc An qua nhà Ông Nhạ để thắp nén hương vô tình nhìn thấy cô con gái xấu xí Hầu Nhi thân pháp nhanh nhẹn kiếm pháp hoa cả mắt Phúc An đứng ngây người ra để nhìn tưởng là mình đang trong mơ.
Hầu Nhi dừng kiếm nở nụ cười tươi nói anh thấy em múa kiếm đẹp không. Phúc An nói không chỉ đẹp mà còn ảo diệu vô cùng không khác gì một cao thủ võ lâm.
Nói thiệt với anh An Cậu Nhạ nhà em chính là một đại cao thủ võ lâm một trong thất Ma khét tiếng giang hồ, Phúc An nghe xong tưởng là mình nghe lầm bằng hỏi lại Ông Nhạ là đại cao thủ võ lâm. Hầu Nhi gật đầu, cậu em đã bị bọn chúng đầu độc qua một tay buôn trước khi chúng đến, vì bị đầu độc lại có một mình mới bị chúng hạ sát nhanh chóng hầu cướp đi một bản đồ vô giá mà cậu em đã vô tình tìm thấy được. Phú An nghe xong như chợt hiểu thì ra là thế. Hầu Nhi nhìn Phúc An rồi nói hơn năm nay em ra sức tập luyện võ công có cơ hội là em trã thù cho cậu cũng như những sinh mạng đã chết dưới tay bọn chúng, nhất định chúng sẽ trở lại không lâu.
Phúc An nói em truyền thụ võ công cho anh, anh cùng em trả thù cho gia đình bác Nhạ. Hầu Nhi nghe xong lấy làm cảm động, cảm ơn anh Phúc An. Không phải là em không truyền thụ võ công cho anh, vì võ công của em quá kém cỏi thời làm thế nào truyền thụ võ công cho anh trở thành cao thủ được. Sáu tên Ma đầu ấy võ công kinh khiếp không nói là không có đối thủ chỉ cần một tên đệ nhất Ma quân binh huyện Sơn La cũng chẳng làm chi được huống là sáu tên đại ác Ma. Nhưng không phải là không có cách đánh bại sáu tên ác Ma đó.
Phúc An nghe xong lấy làm mừng cách nào muội muội chỉ cho huynh đi. Hầu Nhi bỗng nổi lên tia hy vọng đôi mắt Hầu Nhi bỗng trở nên sáng quắc Phúc An nhìn thấy không khỏi kinh hãi.
Hầu Nhi nói anh theo em vào đây, hầu nhi dẫn Phúc An vào một căn phòng lộng lẫy hương thơm ngào ngạo chính là phòng của Cẩm Nhung khi xưa. Hầu Nhi lấy ra một chiếc hộp mở ra trong đó có một tấm bản đồ nói đây là tấm bản đồ tìm đến kho báu. Cậu em đã tìm kiếm ra kho báu cách đây hơn ba năm chờ cơ hội cũng như chị Cẩm Nhung học võ công thành tài thời cùng cha khám phá khó báu sau đó đi đến một nơi khác để ở tránh tai mắt của bọn hắc, bạch giang hồ. Không ngờ sự thể xảy ra kết cuộc thật là bi thảm như huynh đã thấy.
Hầu Nhi nói kho báu cách đây khá xa hơn trăm dặm về hướng tây có nghĩa là đi về hướng tây hơn trăm dặm đến dãy núi cao, nơi ấy có một thung lũng rộng lớn. khi ấy mới dở bản đồ ra mà tìm kiếm kho báu. Hầu Nhi đưa bản đồ cho Phúc An em trao cái nầy cho anh tùy anh làm gì thời làm, cũng vì tấm bản đồ nầy mà cậu em mất mạng, bọn Ma, Quỷ đánh hơi giỏi lắm, chuyện kho báu bản đồ phải nói là tuyệt mật không nói cho ai nghe. Chỉ nói cho một mình em biết thôi. Thế mà bọn ác Ma cũng đánh hơi được.
Phúc An nhận lấy tâm da bản đồ rồi đi đến một quyết định anh phải ra đi tìm kho báu một thời gian không biết là bao lâu. Hầu Nhi nhìn Phúc An tràn đầy tia hy vọng.
Nói về Phúc An trở về nhà hối thúc cha mẹ làm mấy chiếc bánh mang theo ăn trên đường. Ông Bà Phúc Lương hỏi gì Phúc An cũng không nói chỉ nói là đi một chuyến xa có việc. Ông Bà Phúc Lương có hỏi Hầu Nhi, Hầu Nhi nói có lẽ anh Phúc An đi học nghề gì đó tìm tương lai cho mình Ông Bà Phúc Lương nói nó cũng đã lớn rồi đi tìm tương lai cho mình là phải.
Từ mờ sáng tinh sương trên con đường ngoằn ngoèo người ta nhìn thấy một đôi son trẻ trai thời vai mang búa, tay cầm rựa. gái thời xấu xí tay xách đồ ăn hai người nắm tay nhau như không muốn rời nhau từng bước đi chậm chạp Hầu Nhi nói anh hết sức thận trọng em ở nhà chăm lo hai bác em trông anh trở lại từng ngày từng giờ trả được mối thù cũng như tìm kiếm chị Cẩm Nhung. Nghe nói đến Cẩm Nhung đôi mắt Phúc An vụt sáng lên, lòng quyết tâm tìm ra kho báu, dù tiễn chân xa mấy rồi cũng chia tay Hầu Nhi nhìn theo bóng dáng người thanh niên đầy dũng cảm xa dần rồi mất hút.
Hai năm trôi qua kể từ ngày Phúc An ra đi, người con gái xấu xí tên là Hầu Nhi trở về là Cẩm Nhung làm con gái Ông Nhạ ai nấy cũng lấy làm kinh ngạc nhưng hiểu ra cô con gái Ông Nhạ Cẩm Nhung biết thuật hóa trang mới thoát chết trong cuộc tàn sát hơn bốn năm về trước, nổi tiếng là người con gái xinh đẹp thông minh, cô tiếp tục sự nghiệp buôn bán kinh doanh theo con đường của cha, nên nhà cửa cô lúc nào cũng có kẻ mua bán bán tấp nậy. Ông Phúc Lương trở thành quản gia cho Cẩm Nhung. Cẩm nhung coi Ông Bà Phúc Lương như cha mẹ ruột của mình Cẩm Nhung làm ăn mỗi ngày một giàu tiếng tăm lừng lẫy.
Nói về bọn làm ăn thương trường có công tử thương gia Đồ Sơn tên là Trục Lợi không những háo sắc mà còn là nham hiểm, cạnh tranh làm ăn với Cẩm Nhung nhưng cạnh tranh không lại, nhiều lúc muốn hãm hại Cẩm Nhung, nhưng thấy Cẩm Nhung quá xinh đẹp nên chưa hạ sát. Có lẽ không còn nhịn được nữa chúng chờ cho chuyến hàng Cẩm Nhung đi qua địa bàn vắng vẻ Trục Lợi liền cho người ra tay trên mười xe chở hàng đang đi, bỗng từ trong khu rừng mấy mươi tên bịt mặt xuất hiện bao vây chận đoàn xe lại.
Tên bịt mặt cầm đầu quát kêu cô chủ các ngươi ra đây cho ta hỏi chuyện. Cẩm Nhung từ trên xe bước xuống hỏi các người là người nơi nào định cướp hàng của ta hả. Tên cầm đầu lăm le thanh đao nói không những cướp hàng mà con thưởng thức cành hoa xinh đẹp Cẩm Nhung nghe xong không nói không rằng chỉ cười lạnh lùng. Tên cầm đầu ra lệnh bắt lấy cô ả cho ta tức thời hai tên bịt mặt lao tới ra tay bắt Cẩm Nhung. Tả hữu Cẩm Nhung có hai vệ sĩ nữ võ công cao cường chận đánh với hai tên bịt mặt, thế là cuộc giao tranh xảy ra bên Cẩm Nhung bị thương hết mấy người.
Cẩm Nhung không thể chần chừ được nữa liền thét lên một tiếng với thân pháp như quỷ ma Cẩm Nhung hạ gục liền mười mấy tên, bọn người bị mặt kinh hồn bạt vía tên cầm đầu bịt mặt thất sắc la lớn ảo ma thất sát. Cẩm Nhung thét lớn Ta chính là con của Thất Sát Ác Ma một trong đại Ma đầu lừng danh khét tiếng, tên cầm đầu sợ quá đái ra quần quỳ lạy xin tiểu thơ tha mạng. Cẩm Nhung phất tay một cái điểm huyệt tên cầm đầu lột khen che mặt rồi nói thật không ngờ một thương gia nổi tiếng Đồ Sơn lại đi cướp của giết người đáng lý ra ta sẽ giết sạch các người trừ đi hậu họa cho dân. Nhưng vì nước có phép nước ta giao các ngươi lên quan huyện vậy, và bồi thường thiệt hại những gì ngươi gây tổn thất cho ta.
Từ đó Cẩm Nhung nổi tiếng như cồn không có thế lực cạnh tranh nào dám động đến cô nữa.
Nói về Phúc An ngày đi đêm nghỉ, không bao lâu vượt qua hơn trăm dặm nhìn thấy trước mắt là những dãy núi cao Phúc An vượt suối trèo non đi hơn nửa ngày nữa đến dãy núi cao nhất nơi đây núi non trùng điệp có những hố sâu không thấy đáy bỗng nghe tiếng hổ gầm dữ dội một con hổ lớn xuất hiện từ xa tiến lần đến chỗ Phúc An, Phúc An vô cùng kinh hãi một tay nắm chặt cái rựa, một tay nắm chặt cán búa thủ thế đi xà lui không may lọt xuống hố sâu không thấy đáy.
Đến khi tỉnh dậy thấy mình mẩy đau nhức vô cùng dây leo chằng chịt, nhìn lên miệng hố thấy sâu hun hút, nhìn xuống vẫn không thấy đáy Phúc An vô cùng kinh hãi đời mình có lẽ kết thúc nơi đây vì mình mẩy nhúc nhích không được bị chấn thương thời phải, trong lúc tuyệt vọng Phúc An nghe mùi thơm thoang thoảng cách Phúc An không xa chỉ cần dơ tay ra là tới quả linh chi ngàn năm đã chín duyên kỳ ngộ hi hữu trên đời, trong đại họa thường sanh ra gặp đại phúc. Phúc an liền hái quả linh đưa lên miệng để ăn kỳ lạ thay quả linh chi liền tan biến thành nước thơm ngát trôi luôn xuống bụng, một luồng sinh khí kỳ lạ từ đan điền cuồn cuộn bốc lên làm nóng rang cả người, nóng quá chịu không nổi Phúc An lại thiếp đi lần nữa đến khi tỉnh dậy Phúc An thấy trong mình nhẹ bổng khoan khoái đến lạ thường Phúc an liền hiểu rõ sự diệu dụng của quả linh chi.
Điều kỳ lạ ở đây không những Phúc An thấy mình không hề bị tổn thương nào cả hai con mắt nhìn thấy tới đáy của hố sâu chỉ còn vài chục sải tay là tới đáy. Phúc An nghĩ số mình bỏ mạng ở nơi đây mới gặp cảnh nầy như chợt nhớ đến tấm bản đồ xem xong Phúc An vô cùng kinh ngạc, vì nhận ra cảnh giới trong bản đồ khi bước chân đến đây, cửa vào u minh tuyệt cốc chính là hố sâu thăm thẳm nầy quả là bí mật vô cùng bí mật, không ai có thể ngờ tới.
Tánh tò mò muốn tìm hiểu về u linh tuyệt cốc với sự thèm khát của giới giang hồ tranh giành chém giết lẫn nhau cũng vì tấm bản đồ nầy, có lẽ nơi u linh tuyệt cốc có nhiều báu vật quý hiếm trên đời. Với tánh thông minh trời cho cũng như căn cốt nội thân trời phú hơn người. Nếu luyện võ thời mau thành tài ít người sánh kịp. Phúc An đi đến một quyết định là khám phá u linh tuyệt cốc. bằng rút những sợi dây chằng chịt người thường không thể nào làm nổi. Nhưng nhờ ăn được quả linh chi ngàn năm sức mạnh tăng lên gấp chín mười lần, với đôi bàn tay không Phúc An bức những sợi dây nối lại với nhau thả xuống hố sâu rồi tuột xuống.
Khi chạm chân xuống đáy u linh tuyệt cốc Phúc An không khỏi kinh ngạc vì dưới đáy u linh tuyệt cốc một khoản không gian rộng lớn có rất nhiều hang động kỳ bí vô cùng hình như có bàn tay con người làm nên những sự kỳ bí đó.
Phúc An nhìn thấy cái rựa cũng như cái búa của mình đã rơi xuống đáy cốc. Phúc An vô cùng mừng rỡ nhặt lấy tâm thần định tỉnh vì đã có vũ khí trong tay. Phúc An lúc bây giờ lỗ tai rất thính nghe tiếng phì phèo cách đó không xa một con mãng xà to lớn lao nhanh ra tấn công nuốt chửng Phú An. Phú An nhờ căn cốt bản thân sức mạnh hơn người lại may mắn ăn được quả linh chi nghìn năm, một cú chém phải lên đến vài tạ, có thể hạ gục một con voi to lớn. Phúc An chém ngay một rựa vào đầu con mãng xà, đầu con mãng xà không hề hấn gì Phúc An vô cùng kinh hãi con mãng xà lao nhanh đớp Phú An một cái chí tử cơ may Phúc An né tránh kịp thời không thì toi mạng rồi, cuộc chiến mỗi lúc một thêm gay cấn, con mãng xà nhanh nhẹn khôn tả với đao kiếm thường khó mà hạ gục mãng xà được. Lớp da con mãng xà thật kỳ lạ búa rựa chém không đứt. Chỉ còn một chỗ là chưa chém trúng đó là dưới cổ họng con mãng xà, Phúc An thấy con mãng xà rất sợ chém trúng chỗ đó nó luôn né tránh che đậy thật khéo léo. Thì ra con mãng xà nầy tu luyện hàng nghìn năm sắp trở thành yêu tinh quỷ dữ, nếu gặp người nào khác thời con mãng xà nầy nuốt vào bụng rồi.
Phúc An là người rất thông minh, vừa đánh vừa dụng mưu kế lừa đòn đánh đông lại chém đằng tây, con mãng xà bất ngờ trúng ngay một búa vào yếu huyệt huyết hầu giãy dụa rồi chết, biết linh xà nầy tu luyện lâu năm có ngọc Phúc An liền mổ bụng khi con mãng xà còn sống lấy được viên ngọc mãng xà Phúc An nuốt ngay vào bụng sau nầy trở thành bách độc bất xâm. Thần lực lại tăng lên gấp bội.
Phúc An diệt xong con xà tinh, nuốt được kim đơn cảm thấy trong người nhẹ như bay. Phúc An bắt đầu khám phá sự bí mật nơi u linh tuyệt cốc, trước mặt Phúc An là một hang động Phúc An liền đi nhanh vào đó thấy có một mật thất mùi hương thoang thoảng Phú An nhìn thấy một khe đá từng giọt nước nhỏ xuống đọng thành vũng hương thương từ vũng nước nầy thoang thoảng lan ra, trên vách đá có khắc mấy dòng chữ u linh long mạch chỉ cần uống được nước nầy hàng ngày thời không cần ăn uống gì nữa dù sống ở đây cả trăm năm Phúc An lấy làm mừng rỡ thốt lên mạng ta được cứu sống rồi.
Phúc An đi trở ra nhìn con mãng xà thầm nghĩ có lẽ con mãng xà thường dùng nước u linh long mạch nên mới luyện được mình đồng da sắt như thế. Phúc An đi nhanh vào hang động thứ hai thấy có cánh cửa đá khép kín trên cánh cửa có một vòng tròn Phúc An xoay nhẹ vòng tròn cánh cửa đá mở ra Phúc An lóa cả mắt bởi những ánh sáng ngọc ngà châu báu những vật báu quý hiếm trên đời. Chỉ cần một viên đại minh châu cũng đã giàu rồi huống chi là ngọc ngà châu báu cả kho, có thể nói còn hơn cả vua chúa. Trên kệ đá có một thanh bảo kiếm cổ kính. Phúc An cầm lấy rút kiếm ra tức thời hơi lạnh thấu xương ánh sáng màu xanh, những chữ nhỏ li ti Lục Mạch Thần Kiếm.
Phúc An mang lục mạch thần kiếm đi ra khỏi mật thất tiếp tục khám khá u linh tuyệt cốc, Phúc An quan sát chỉ có ba hang động mà thôi, đi sâu vào hang động thứ ba cuối cùng hang động là một mật thất Phúc An xoay nhẹ vòng tròn cánh cửa mật thất mở ra thời thấy một bộ xương hài cốt, trước mặt là một chiếc hộp không biết đựng gì trong đó. Phúc An bước tới quỳ lạy khấn rằng con tên là Phúc An mười lăm tuổi quê quán ở Cao Sơn, Huyện Sơn La may mắn gặp được chủ nhân tổ sư U Linh Tuyệt Cốc xin tổ sư linh thiên chỉ dạy cho nói xong Phúc An quỳ xuống lạy ba lạy, lạy đến lạy thứ ba thạch thất chuyển động tên hai bên vách đá bắn ra như mưa Phúc An nhờ khấu đầu lễ lạy nên không trúng mũi tên nào. Nếu người nào có lòng tham lam vớ lấy chiếc hộp thất lễ với bộ xương khô thời coi như đã đi vào toi mạng, vì những mũi tên được tạo ra bằng chất kịch độc không có thuốc chữa.
Phúc An vô cùng khiếp vía lạy xong nhìn xung quanh thấy toàn là tên độc ngoài ra không còn gì nữa. Phúc An vái lạy lần nữa rồi cầm chiếc hộp lên phủi đi lớp bụi thấy có dòng chữ. Ta tên là Thượng Tiên biệt hiệu là Lục Mạch Tổ Sư. Trong họp có cuốn bí kíp Lục Mạch Thần Công. Lục Mạch Chiêu Pháp, Lục Mạch Trảo công, chỉ cần tu luyện được năm phần cũng đã trở thành vô địch thiên hạ, huống chi là tu luyện hết bí pháp cũng phải mất trên ba mươi năm. Nếu không có nhân duyên đặt biệt trợ giúp.
Từ đó Phúc An quên cả thời gian tập trung nghiên cứu tu luyện võ học thời gian trôi qua không biết là bao lâu nữa dưới u linh tuyệt cốc chỉ có duy nhất một loại hoa mọc trên đá hoa thơm đẹp lạ lùng hàng năm chỉ nở một lần vào mùa xuân. Khi Phúc An đến đây thời loài hoa nầy đang nở rộ, đến nay đã bảy lần nở rồi. Phúc An ngẫm nghĩ không lẽ trong thời gian có bảy năm mà ta đã học hết bí kíp rồi sao, môn võ công nào cũng đã đạt đến cảnh giới thượng thừa xuất thần nhập quỷ. Phúc An cảm thấy nhớ nhà vô cùng nhất là nhớ người con gái xấu xí tên là Hầu Nhi vô cùng tốt bụng. Phúc An nhìn U Linh Tuyệt Cốc sâu hun hút bằng hú lên một tiếng vang động dùng thuật phi hành bay lên không bao lâu thời ra khỏi U Linh Tuyệt Cốc.
Nói về nơi quê nhà Phúc An ra đi được hai năm Cẩm Nhung theo nghề của cha mở rộng thương gia trở thành bà chủ nổi tiếng ở Cao Sơn người ăn kẻ ở lên đến mấy mươi người. Nhất là sau khi đánh bại âm mưu của Thương Gia Đồ Sơn. Cẩm Nhung làm cho Trục Lợi khiếp đảm. Từ đó Thương Gia Cẩm Nhung nổi tiếng như cồn. Không có thế lực nào dám cạnh tranh với Thương Gia Cẩm Nhung nữa. Sự làm ăn của Cẩm Nhung cũng nhanh chóng giàu lên.
Tuy bề bộn nhiều công chuyện nhưng Cẩm Nhung lúc nào cũng nhớ Phúc An năm năm rồi biệt vô âm tín không biết có tìm được nơi kho báu hay không hay là … Cẩm Nhung không dám nghĩ tiếp nữa. Ông Phúc Lương trở thành quản gia đắc lực cho Cẩm Nhung, trong lúc bàn công chuyện làm ăn cùng Ông Phúc Lương, Cẩm Nhung kể rõ tất cả câu chuyện vì sao gia đình cô bị giết. Cha cô vốn là một trong bảy đại ác ma một hôm cha cô vô tình nhặt tấm bản đồ vẽ nơi cất giấu kho báu đó ở đâu, sợ bại lộ nên cha mới tìm đến nơi hẻo lánh Cao Sơn nầy để ở và trở thành một thương gia, mười năm trôi qua cha đã tìm ra nơi kho báu cách đây khá xa nhưng chưa dám động đậy gì vì sợ giang hồ phát hiện cũng như thất đại ác ma phát hiện, thời khó mà bảo toàn tánh mạng. Không ngờ chúng đã đánh mùi kéo đến trong bảy đại ác ma cha con võ công cao hơn hết không dễ gì đánh bại trong giây lác, chúng sợ cha con tẩu thoát khó mà cướp đi bản đồ kho báu, để chắc ăn chúng cho người đầu độc cha trước khi chúng đến.
Khi chúng đến những lời sắc lạnh, chúng nói đưa bản đồ ra đây thời may ra còn mạng sống, cha con nói bản đồ nào mà đưa, tên đại ác ma nói giết sạch đi rồi lấy không để còn một người sống sót. Thế là cuộc giao tranh xảy ra khi ấy con đã hóa trang thành người con gái xấu xí co ro trong xó nhà. Bọn chúng giết xong lục lạo không bỏ sót một chỗ nào chúng thấy con xấu xí lại khiếp sợ co ra trong xó nhà có lẽ chúng không cần giết một con ở xấu xí như con, vì con chỉ là con ở không biết gì. Nay con đã trở về thân phận Cẩm Nhung nổi tiếng khắp vùng thế nào chúng cũng trở lại đây để truy tìm bản đồ kho báu, và con không phải là đối thủ của chúng. Cơ may anh Phúc An đã tìm được khó báu tu luyện được võ công tuyệt học mới đánh bại được bọn ác ma. Nhưng nay đã năm năm trôi qua không thấy an Phúc An trở lại. Nếu học thành tài trở lại thời cũng chỉ nhìn thấy những nấm mồ hoang những người thân của mình đã bị những ác ma giết như trước cách đây sáu năm.
Ông Bà Phúc Lương nghe Cẩm Nhung nói vô cùng sợ hãi. Cẩm Nhung nói con có cách và cũng đã chuẩn bị hành trình dời đến nơi khác để ở coi như gia đình Ông Nhạ không còn trên đời tránh đi tai mắt của ác ma, khi nào anh Phúc An trở về sẽ có người nói cho anh Phúc An biết là là gia đình đến ở nơi đâu. Ông Bà Phúc Lương nghe Cẩm Nhung nói rất phải bằng theo kế sách Cẩm Nhung dời đến nơi ở mới Định Quán Hải Châu.
Định Quán Hải Châu là một châu thành rộng lớn dân số đông đúc người mua kẻ bán tấp nập Cẩm Nhung về đây mở thương hiệu lấy tên Thương Gia Phúc An làm ăn mỗi ngày mỗi khấm khá giao thương thuận lợi tuy mới hai năm nhưng cơ ngơi ra bề phết.
Cho đến một hôm Cẩm Nhung trong lòng thấy hồi hộp mãi tim đập mạnh, không lẽ bọn ác ma đã tìm đến. Ông Phúc Lương cũng cảm thấy như thế liền nói với Cẩm Nhung không lẽ có chuyện gì sắp xảy ra đến với gia đình ta, sao cha thấy hồi hộp quá. Mặt trời xuống núi khá lâu, vầng trăng cũng đã lên cao Định Quán vẫn ồn ào như ngày nào thành phố mua sắm ăn chơi, đêm đã về khuya những con đường lần lần vắng bóng. Thường mọi lần giờ nầy Cẩm Nhung đã đi vào giấc ngủ, nhưng hôm nay thời khác Cẩm Nhung không thể nào ngủ được trong lòng cứ nao nao mãi, tiếng chó sủa đã vang lên, nhưng vèo vèo bộp bộp hình như bầy chó đã bị hạ gục không một tiếng kêu la, thủ pháp vô cùng lợi hại ngoài ác ma ra thời ai làm nổi chuyện đó Cẩm Nhung linh cảm ác ma đã đến thương gia Phúc An cũng chấm dứt từ đây, cô thở dài thế là hết, bao nhiêu sự tính toán của cô cũng không sao tránh khỏi nanh vuốt của bọn ác ma. Cửa cổng đã đóng kín khóa chặt nhiều lớp cửa cổng vẫn đóng thế mà sáu người như bóng ma hiện ra trước sân. Dưới ánh trăng sáng tỏ một giọng cười lạnh gáy nổi lên thì ra ngươi vẫn còn sống, ngươi lẩn tránh sao nổi ác ma ta. Khôn hồn thời đưa tấm bản đồ ra đây may ra ta để cho toàn thây. Các gia nhân cùng những võ sư từ trong các nhà đi ra tay cần kiếm đao sáng loáng quát lớn kẻ nào dám vào đây gây sự.
Một chàng trai trẻ tên là Võ Hậu võ nghệ cao cường được thương gia Phúc An thê với giá cao, tay cầm thanh đao quát lớn sáu người ở đâu đến khôn hồn cút đi may ra còn tánh mạng. Một tiếng cười lạnh buốt nổi lên tức thời một bàn tay chụp tới hút lấy Võ Hậu, sau đó một tiếng rú lên thảm thiết thân hình Võ Hậu bị xé nát ra làm nhiều mảnh, ai nhìn thấy cũng phải khiếp vía run lên cầm cập.
Biết không thể trốn được nữa liều chết với bọn ác ma một phen. Cẩm Nhung trong trang võ phục tay cầm thanh kiếm bước ra sân quát lớn lũ ác ma Cẩm Nhung ta hôm nay liều mạng với các ngươi. Tên cầm đầu đại ác ma nói ngươi rất giống mẹ ngươi có sắc đẹp và dũng cảm hơn người không chịu tùng phục ta, nên ta đã giết chết, cha ngươi cũng thế đã bị ta làm thịt khá lâu rồi. Nay còn ngươi mau đem tấm bản đồ ra đây ta để cho cái chết toàn thây, bằng không như thằng chó kia banh xác, hắn chỉ Võ Hậu.
Cẩm Nhung nghiến răng trợn mắt ta sẽ liều mạng với ngươi với thân pháp kỳ lạ với đường kiếm chớp nhoáng chém tới tên đại ác ma. Tên nhị ma nói cũng khá đấy chứ nhưng so với cha ngươi thời ngươi còn kém xa để đệ bắt sống khai thác buộc nó khai ra nơi cất giấu bản đồ. Nhanh như chớp nhị ma chụp tới Cẩm Nhung chỉ phong xé gió đinh tai nhức óc ngã nầy. Không ngờ ầm một tiếng nhị ma oại ra ngụm máu vô cùng kinh hãi chuyện gì đã xảy ra. Cẩm Nhung thấy người cứu mình chính là Phúc An. Cẩm Nhung thét lên vô cùng mừng rỡ anh Phúc An đã về, Phúc An đã về Phúc An gật đầu.
Các võ sư cùng các gia nhân thường nghe nói Phúc Lương có người con trai khôi ngô tuấn tú thông minh hơn người, vì bận việc đi xa nên chưa về tuy dưới ánh trăng người ta vẫn thấy sự khôi ngô tuấn tú đó. Các võ sư không ngờ Phúc An xuất hiện kịp thời võ công cái thế cứu cô chủ thoát chết.
Nói về Phúc An rời khỏi u linh tuyệt cốc trở lại quê nhà sau bảy năm xa cách, Phúc An dùng thuật phi hành chỉ trong vòng một đêm là tới xã Cao Sơn. Trong niềm vui trở về nhà tưởng đâu gặp lại cha mẹ cùng cô con gái xấu xí Hầu Nhi. Khi về đến nhà thời trời cũng vừa hừng sáng bước vào nhà chỉ thấy là nhà trống không hỏi ra mới biết cha mẹ đã đến nơi ở khác cùng với Cẩm Nhung con của Ông Nhạ. Phúc An kinh ngạc Cẩm Nhung còn sống sau cuộc tàn sát cô đã trở về. Nhà Ông Nhạ đã bán cho một gia đình khác cũng là một thương buôn Phúc An đến hỏi thăm mới biết gia đình Phúc Lương cùng cô con gái Cẩm Nhung đã dời đến Định Quán Hải Châu. Trên vai mang một cái bao khá lớn chứa đựng những châu báu quý hiếm vô cùng, Phúc An lấy ra một thỏi vàng mua một con ngựa để tiện bề vân du.
Trên đường đi đến Định Quán Hải Châu, ghé vào một cái quán bên đường dùng cơm đây là lần đầu tiên sau bảy năm mới dùng cơm trở lại vô tình nghe sáu người bàn luận. Một người nói không ngờ con nhỏ đó ma ranh biết thuật hóa trang biến thành con ở xấu xí mới thoát chết. Tấm bản đồ đó nằm trong tay con nhỏ nầy nên nó mới đổi chỗ ở như vậy xóa sạch sự nghi ngờ trong lòng chúng ta. Vì gia đình đã chết sạch không còn ai nữa. Người tính sao bằng trời tính chúng nó đã lòi cái đuôi. Lần nầy thời khó mà chạy thoát. Phúc An nghe chúng bàn luận thời biết ngay là sáu tiên ác ma đã thảm sát gia đình Ông Nhạ. Cũng từ lúc nầy Phúc An luôn bám sát theo bọn chúng. Chúng đánh hơi thật tài tình vài ba lần thăm dò tìm được ngay nơi ở của Cẩm Nhung.
Nhìn bản hiệu Thương Gia Phúc An, Cẩm Nhung lấy tên thương gia là tên của mình Phúc An vô cùng xúc động.
Phúc An tìm một quán trọ cách đó không xa chờ cho trời tối ẩn mình vào thương gia Phúc An với võ công thượng thừa không một ai phát hiện ra. Đến khi Cẩm Nhung sắp rơi vào tay ác ma Phúc An liền xuất hiện chống đỡ chiêu thức của nhị ma làm cho nhị ma bị thương oại máu, nhất là Cẩm Nhung vô cùng mừng rỡ vì Phúc An đã trở về kịp thời, Cẩm Nhung nhìn thấy võ công Phúc an cái thế biết là Phúc an đã tu luyện thành tài, trong lòng càng mừng hơn nữa.
Đệ Nhất Ma quát ngươi là ai?
Phúc An nói lũ ác ma các ngươi hôm nay phải đền tội. Sáu tên ác ma biết gặp phải cao thủ đồng ra tay mỗi người ra chiêu khác nhau chưởng phong ầm ầm, chỉ phong xé gió, đao, kiếm loang loáng cát bay đá chạy đến kinh người. Cẩm Nhung phóng nhanh ra khỏi vòng chiến đấu nhìn vào thấy Phúc An có một vòng hào quang màu xanh bao bọc ầm ầm đùng đùng rung chuyển cả màn đêm. Một tiếng hú như rồng ngâm nổi lên tức thời thanh Lục Mạch Thần Kiếm Phúc an thi tuyển tuyệt chiêu với mười hai thần công lực kiếm quang bao phủ một vùng rộng lớn, kiếm phong đinh tai nhức óc ầm ầm, đùng đùng rung chuyển màn đêm những tiếng rú nổi lên ba xác người thi nhau ngã gục, tứ ma, ngũ ma, lục ma bỏ mạng. Nhất ma, nhị ma, tam ma định tẩu thoát nhưng nào đâu có dễ với bộ pháp như quỷ ma Phúc An dùng lục mạch thần công chỉ pháp điểm huyệt tam ma ngã gục không còn cử động được nữa.
Ông Phúc Lương cùng các gia nhân, võ sư thở phào nhẹ nhõm coi như bọn ác ma đã bị tóm gọn. Để trừ đi hậu họa cho người đời Phúc An nói với Cẩm Nhung muội hãy trả thù cho cha mẹ.
Cẩm Nhung bước đến chỗ đại ác ma, quát lớn các ngươi không ngờ có ngày hôm phải không, gieo ác phải gặt họa luật trời nào tránh khỏi. Cẩm Nhung khấn vái cha mẹ một hồi cũng như những người đã bị ác ma giết cách đây hơn bảy năm về trước. khấn xong Cẩm Nhung đâm xối xả vào ác ma, rồi đến lượt nhị ma, tam ma cũng thế. Ba tên kia dù đã chết Cẩm Nhung cũng cho người phanh thây vứt xuống sông làm mồi cho cá.
Thất Ma đã chết mối thù cha mẹ cũng đã trả xong Cẩm Nhung cùng Phúc An nên duyên vợ chồng, thương gia Phúc An nhờ vào số châu báu như hổ thêm cánh, mỗi ngày thêm mở rộng bề thế giàu có nhất Định Quán Hải Châu. Cẩm Nhung sanh được bốn người con hai trai hai gái đều thông minh hơn người hạnh phúc nào cũng phải trả cái giá đắc bằng sự khôn ngoan tài đức của chính mình.
69. CÔNG CỐC – DÃ TRÀNG
Lợi danh, danh lợi cuộc hề
Khói mây rồi cũng trở về khói mây
Chỉ người hành thiện xưa nay
Nhận nhiều phước báo biết bao đẹp lành
Khối người nghe tiếng Tôn Sư Thiện Hạnh từ lâu giảng đạo rất hay họ rủ nhau đến để nghe phải nói là rất đông, đủ thành phần giai cấp xã hội.
Nơi hội trường Mỹ Thuận trên bực giáo giảng Tôn Sư Thiện Hạnh nói từng lời chậm rãi rõ từng câu chữ.
Thưa bổn đạo, thưa thiện nhân trí thức, thưa toàn thể con Rồng cháu Tiên.
Trên cõi đời nầy không chỉ con dã tràng làm chuyện công cốc. Mà con người cũng làm những chuyện cuộc hề khói mây. Biết bao nhiêu câu chuyện xưa có mà nay cũng có chuyên làm những chuyện không đâu cuối cùng không đem lại kết quả được gì chỉ là con số không. Đừng nói đâu xa ngay trong cuộc đời, Biết bao nhiêu cuộc tranh giành nổi lên lập ra nhiều bè phái, đảng phái, đấu đá lẫn nhau, thi nhau mà lừa mà phỉnh.
Bè phái, đảng phái nào cũng nói mình vì nước vì dân. Nhưng không hề đá động gì đến Ông Quốc Tổ. Không hiểu đất nước nầy ai đã khai dựng lên, không lẽ tự nhiên mà có Dân Tộc Việt Nam, Đất Nước Việt Nam về chiều dài lịch sử thời có Nguồn có Cội rõ ràng.
Đã là Dân Tộc Việt Nam dù cho đi đến nơi đâu đều có Cội Nguồn là Ông Quốc Tổ luôn mang trong mình người Dân Đại Việt. Huống chi là còn ở trong nước. Những bè phái, đảng phái nào nói mình vì nước vì dân nhưng không tôn thờ Quốc Tổ. Thời những bè phái, đảng phái ấy lấy tư cách gì nói mình vì nước vì dân.
Thậm chí tôn thờ ngoại bang không đếm xỉa gì đến công lao dựng nước, giữ nước mấy nghìn năm xương máu của Ông Cha. Chỉ lo tranh giành đấu đá lẫn nhau thắng là Vua thua cho là Giặc chiến tranh loạn lạc triền miên nồi da nấu thịt tương tàn kéo dài hết thập niên nầy đến thập niên khác.
Điều kỳ lạ ở mỗi chiến trận xảy ra chỉ vì tranh giành đấu đá không phải là chống ngoại xâm, mà là tương tàn đồng loại anh em, dẫn đến hàng triệu người phải bỏ mạng đều là những liệt sĩ được Tổ Quốc ghi công. Bè phái, đảng phái nào cũng làm như thế. Hai bên đối lập nhau những người ngã xuống ở hai bên đều là anh hùng liệt sĩ Tổ Quốc ghi công. Tổ Quốc nào mà ghi công, khi hy sinh không phải vì dân, vì nước, vì chống ngoại xâm, chỉ vì sát phạt nhau giữa bè phái, đảng phái.
Một cuộc hề trên sân khấu trường đời cú lừa ngoạn mục những người thiếu hiểu biết cho đó là sự thật họ hi sinh vì dân vì nước. Nhưng đến khi cuộc đấu đá kết thúc kẻ mạnh trở thành thế lực quan vua những tử sĩ trở thành liệt sĩ được Tổ Quốc ghi công, còn tất cả những phe phái, đảng phái đối lập những người hi sinh trở thành những hồn ma phản động. Bởi vì họ tranh giành đấu đá không lại.
Trải qua nhiều triều đại những người được Tổ Quốc ghi công thời được mấy người, điều nầy đã chứng minh sự hi sinh cho đảng phái, bè phái, kể cả những bè phái, đảng phái thắng cuộc trở thành vua quan, đều là công cốc dã tràng cuộc hề khói mây. Khi Chế Độ tan rã không còn thời Tổ Quốc ghi công không cánh mà bay mất dạng. Những anh hùng liệt sĩ cũng theo làn khói tan vào hư không, chẳng ai nhắc đến chẳng ai hỏi thăm gì nữa. Đã là Anh Hùng Tử Sĩ Tổ Quốc ghi công thời đi vào vĩnh viễn. Chế Độ nào lên cũng phải tôn thờ.
Đã đấu tranh vì bè phái đảng phái thời mất đi Chính nghĩa nói đến Chính Nghĩa là phải đi đôi với tôn thờ Nguồn Cội hết lòng vì dân vì nước. Bỏ Cội Nguồn mà trung ư, quên Ông Cha mà hiếu ư, sự Trung Hiếu vì bè phái, đảng phái thành Thần còn chưa được, nói gì thành Thánh. Sự tranh giành đấu đá bè phái đảng dù cho thắng cuộc cũng chỉ là thành công kết tụ chiếc lá. Không ai chống phá cũng đến ngày rơi rụng theo quy luật tự nhiên. Cách mạng mùa kết tụ chiếc lá mà hô muôn năm không phải là ảo tưởng sao.
Nói đến căn bản muôn năm chúng ta có thể nhìn thấy được:
1 – Truyền Thống Anh Linh Dựng Nước, Giữ Nước Muôn Năm
2 – Con Rồng cháu Tiên muôn năm
3 – Quốc Tổ Muôn Năm
Muốn có cuộc cách mạng muôn năm thời phải đi vào cuộc cách mạng Anh Linh Truyền Thống Dựng Nước Giữ Nước ra đời. Khơi dậy con Rồng cháu Tiên. Tôn Thờ Quốc Tổ. Không muốn muôn năm cũng đi vào cách mạng muôn năm. Những người hy sinh trong cuộc cách mạng Văn Hóa Cội Nguồn nầy vì Cha Ông, vì non sông Tổ Quốc, vì con cháu Tiên Rồng. Đương nhiên trở thành Anh Linh Tử Sĩ Tổ Quốc Ghi Công muôn năm. Tôn thờ muôn năm. Cả người chết đi lẫn người còn sống đều được hiển vinh muôn năm.
Có mấy ai chết cho Cội Nguồn đâu mà tỏa sáng chữ Trung. Mấy ai chết vì tôn thờ Ông Cha đâu mà tỏa sáng chữ Hiếu. Sống bỏ Nguồn quên Cội sao gọi là Nhân, không tôn thờ người dựng nước sao gọi là nghĩa. Uống nước không nhớ Nguồn ăn quả quên người trồng cây sao gọi là trí. Nên từ xưa tới nay biết bao nhiêu người hi sinh, nhưng sự hi sinh ấy không phải vì Cội Nguồn mà chỉ vì sự đấu đá lẫn nhau giữa bè phái, đảng phái, khó mà tìm ra người thật sự vì non vì nước vì dân. Nếu thật sự vì nước vì dân vì Cội Nguồn không vì đảng phái, bè phái thời trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa rồi. Dân Tộc Việt Nam trở thành Dân Tộc Thần, Thánh. Làm gì có cảnh ngoại xâm dòm ngó hay xâm lược.
Ở đời người ta thường nói người đại gian ác giống như người thiện, miệng nói một đường nhưng hành động một nẻo, thước đo được lòng người thời phải nhìn vào hành động không phải nghe theo lời nói.
Đảng phái bè phái càng gian ác thường che đậy những lời hoa mỹ lớp võ bao bọc bên ngoài che đậy những hành vi bất chính nói ra lời nào cũng vì dân vì nước, vì nước, nhưng thật ra Nguồn Cội không coi ra gì Thánh Thần đều biết nhưng làm ngơ không cần ra tay vì luật nhân quả sẽ chuyển xoay cách mạng mùa khói mây rồi cũng trở về khói mây. Đổ công sức bất chính kết cuộc là Dã Tràng Công Cốc hết thảy.
Thưa quý vị một Dân Tộc luôn chạy theo xu thế thời cuộc lạc Cội lạc Nguồn chia bè rẽ phái thôn tính lẫn nhau, cái tài đem phục vụ cho tranh bá tranh hùng, thắng là Vua thua là Giặc xem đi xét lại giặc với vua cũng chẳng khác gì nhau công lao thời nhiều nhưng kết quả thời không có trống rỗng vô nghĩa.
Sau đây là câu chuyện của thế lực hùng mạnh
Vào thời mạc pháp có một thế lực tam vô, không Trời Phật, không linh hồn, không nhân quả, chết là hết. Không có cái ác nào mà thế lực tam vô không làm, người phát động dấy lên phong trào tam vô, với sự gian ác tài tình đánh đâu thắng đó cuối cùng xóa sổ các thế lực đối đầu cạnh tranh được tôn sùng lên làm lãnh tụ.
Một hôm thủ lĩnh nói với đàn em tay chân thuộc hạ rằng ta muốn có một thể chế cai trị muôn năm, một nhà nước độc tài kiểu mới, khác với độc tài phong kiến chung sức đóng góp hiến kế cho ta. Thủ Lĩnh Tam Vô nói đi nói lại nhiều lần như thế, nhưng không thấy ai có ý kiến gì. Thủ Lĩnh Tam Vô lại nói các chú làm thinh như thế thời không được, vì chúng ta luôn đề cao Dân Chủ ta tuy lãnh đạo nhưng việc đề ra là do tập thể.
Khi ấy có một người tên là Trí Giả đứng lên thưa rằng thưa đại hội, thưa Thủ Lĩnh muốn có một thể chế cai trị muôn năm, một nhà nước độc tài kiểu mới có một con đường đại lộ để đi.
Con đường đại lộ ấy: Trước khi xây lên một thể chế cai trị muôn năm phải khảo sát tình hình thế giới những xu thế văn minh, không khác gì xây nhà cao tầng phải khảo sát địa chất cũng như gia cố nền móng cho chắc, rồi sau mới chọn vật liệu xây dựng đi vào dựng nhà.
Có nghĩa là: Muốn xây dựng lên một thể chế Chính Trị muôn năm, phải xây dựng trên nền tảng muôn năm. Nền tảng muôn năm chính là tôn thờ nguồn Cội Dân Tộc, đi vào Công Bằng Bình Đẳng.
Có nghĩa là: Xây dựng lên một nền Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp minh chính không rời Nguồn Cội xu thế văn minh thế giới về Quyền con người Nhân Quyền, về Quyền Công Dân. Dân Chủ ai cũng phải sống theo, làm theo, đi theo, thời coi như chúng ta đã xây dựng lên một thể chế cai trị muôn năm.
Chúng ta khi đã có Thể Chế Chính Trị muôn năm tiếp theo là khai lập Chính Quyền muôn năm.
Có nghĩa là: Chọn người tài đức lên lãnh đạo đất nước phải là người có ý tưởng lý tưởng muôn năm.
Có nghĩa là: Chọn người vì non sông Tổ Quốc có trình độ về truyền thống Ông Cha, trung thành với non sông đất nước, người duy nhất được tôn thờ chính là Quốc Tổ. Những người được chọn kế thừa di chí Quốc Tổ xây dựng đất nước mỗi ngày một tốt đẹp hơn. Xây dựng Thể Chế muôn năm, thời phải có con người ý tưởng lý tưởng muôn năm thời nhất định đất nước chúng ta bền vững muôn năm. Vì đã xây dựng theo hệ thống bền vững. Địa Cuộc bền vững, Nền, Móng, bền vững. Vật liệu bền vững.
Cả hội trường không mấy ai đồng ý lối phát biểu nầy kể cả thủ lĩnh.
Có một người tên là Thâm Mưu đứng lên phát biểu, chúng ta là một Đảng Phái hùng mạnh bảo vệ Đảng Phái vững chắc là đi vào trường tồn muôn năm đó là chân lý. Chúng ta theo học thuyết ngoại bang nên chúng ta mới được như ngày hôm nay các Đảng Phái khác không thể nào sánh kịp chúng ta trở thành vua quan cầm quyền đất nước chúng ta phải thờ Ông Tổ của Tam Vô là hợp lý. Đã đi vào cạnh tranh thắng là vua thua là giặc kẻ chiến thắng phải đi vào Độc Tài Toàn Trị khác với độc tài độc trị Phong Kiến Vua Chúa. Độc Tài Toàn Trị do toàn thể Đảng Phái lãnh đạo thống trị. Văn minh hơn độc tài độc trị Vua, Chúa, cai trị.
Chọn những người trung thành vì Đảng, lý tưởng vì Đảng Thủ Lĩnh Tam Vô sống mãi trong sự nghiệp chúng ta. Chỉ cần ru ngủ được nhân dân đưa cho nhân dân những cái lợi nhỏ như tôm tép. Còn chúng ta thời hưởng những lợi lớn như cá mập cá voi. Nhà nước chính quyền cùng nhân dân có lợi, thời ai còn nói gì nữa, khôn khéo lãnh đạo tài tình ăn nói, trụ vững mưu lược muôn năm là chuyện bình thường, chân lý trường tồn chỉ gói gọn bấy nhiêu thôi.
Cả hội trường cùng Thủ Lĩnh nghe xong phần đông đều lấy làm thích thú cho là sự hiến kế đỉnh cao.
Thủ Lĩnh Tam Vô nói: Đây mới là con đường mà chúng ta mơ ước. Chúng ta đã độc tài toàn trị Đảng lãnh đạo, cao hơn độc tài độc trị Phong Kiến Vua Chúa. Dân mơ danh thời chúng ta cho danh, dân mơ lợi thời chúng ta cho lợi. Những hứa hẹn thật hoành tráng nghe đến là mê mẫn, làm tùy sức ăn tiêu theo nhu cầu muốn gì được nấy. Họa lên một thiên đàng trần gian thời ai nghe mà không theo.
Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong. Biết dựa vào sức dân như thuyền nương theo nước mà chạy. Chân lý là thế cần gì phải đi vào chân lý muôn năm, mới tồn tại muôn năm, kết quả cho chúng ta thấy con đường thứ hai chính là con đường chúng ta đã đi, bằng chứng là chúng ta đi từ thắng lợi nầy đến thắng lợi khác, nói chung là dân làm tất, sự thành công của ta là dựa vào sức dân là chính với cái tài pháo mồm pháo miệng của chúng ta, địch thủ nghe đến là sợ, dân nghe đến là mê.
Những viên gạch được chọn là tuyệt đối trung thành với Đảng không phải là trung thành với non sông Tổ Quốc, núp bóng người dựng nước cầm gì phải tôn thờ người dựng nước. kẻ mạnh nhất đương nhiên là nắm quyền mãi mãi không phải muôn năm là gì.
Trí Giả nghe Thủ Lĩnh nói thế chỉ biết thở dài sự hiến kế của mình coi như loại bỏ.
Thủ Lĩnh quyết định đi theo con đường thứ hai do Thâm Mưu hiến kế. Ngôi nhà Tam Vô Đảng Phái vừa xây lên thời có sự rạn nứt không ai tin ai, vì tất cả đạo đức trong Đảng Phái chỉ là bánh vẽ ngôn từ che đậy sự giả dối. Đã là Thể Chế độc tài thời không bao giờ đem lại sự Công Bằng, Bình Đẳng mà chỉ theo thể lệ xin cho mà thôi. Không nói là lừa ăn cả xương lừa không chừa cái chi.
– Nói đến cuộc hồng trần là nói đến vô số Định Luật xoay chuyển như Luật Tuần Hoàn, Luật Nhân Quả, Luật Vay Trả, Luật Vô Thường, v.v…
Hết biến động nầy đến biến động khác có thể nói là triền miên, bao cơn bão thi nhau ập đến như cơn bão kinh tế, cơn bão cạnh tranh, cơn bão chính trị, cơn bão xu thế thời cuộc, cơn bão bạo lực của các thế lực hùng mạnh, v.v…
Ngôi nhà xây lên không cần nền móng kiên cố, những vật liệu xây dựng không bền vững dễ mục nát. Lần lần Thể Chế Độc Tài toàn trị sụp đổ tan tành trở thành Công Cốc Dã Tràng, khói mây rồi cũng trở về khói mây.
Tôn Sư Thiện Hạnh thở dài nói:
Trên khắp thế gian nầy từ cổ chí kim chỉ có Quốc Tổ Vua Hùng là bậc Đại Hùng, Đại Lực, Đại Bị, Đại Nhân, Đại Nghĩa, Đại Trí, Đại Đức. Có một không hai muốn xây dựng nhà nước Văn Lang. Trước tiên chọn Địa Cuộc Bền Vững. Xây dựng nền móng Văn Hóa kiên cố vững chắc. Sau đó chọn vật liệu Nhơn Hiền Trí Đức bền vững. xây dựng tạo lập nên ngôi nhà chung Bách Việt Văn Lang vừa Văn Minh vừa hiện đại, giống như lời Trí Giả hiến kế cho Thủ Lĩnh Tam Vô. Nhưng rất tiếc là Thủ Lĩnh Tam Vô không nghe.
Có thể nói những bài học lịch sử đã cho chúng ta nhận định những đúng sai. Lịch sử chính là kim chỉ nam, những thất bại và sự thành công. Nhất là Quốc Tổ đã để lại cho chúng ta những bài học vô giá dẫn đường cho chúng ta đi.
Cả hội trường im lặng lắng nghe những lời vàng ngọc của Tôn Sư Thiện Hạnh khai sáng chân thật trí chứng ngộ lý sự đi vào tạm bợ, đi vào trường tồn muôn năm. Thấy rõ như trong lòng bàn tay của mình vậy.
70. CẦU THÀNH PHẬT
Vào thời xa xưa phải nói là rất xa xưa vô lượng vô biên số kiếp, ở vào thời kỳ ấy có nước La Đề giàu mạnh nổi tiếng. Lại có nhiều Tôn Giáo, Đạo Giáo ra đời Phật Giáo, Thánh Giáo, Tiên Giáo, Chúa Giáo, v.v…
Nơi tỉnh Hồ Bắc có La Sơn Tự những ngôi chùa mọc lên như nấm thờ nhiều vị Phật nhiều vị Bồ Tát nhưng thờ chính vẫn là vị Phật Tổ Phổ Minh vị Phật thần thông trí huệ vô biên linh thiên bậc nhất.
Sư sãi ở chùa La Sơn Tự có đến hàng nghìn, dân chúng đến La Sơn Tự hành lễ cúng bái rất đông trong nước ngoài nước đủ thành phần giai cấp. Trên điện thờ Phật Tổ chỗ nào cũng hương hoa nhang đèn không ngớt.
Trong số người về Sơn La Tự có vị Thiện Nhân Trí Thức tên là A Di, lúc nào cũng cầu thành Phật vì thấy Phật được dân chúng sùng kính, trên điện thờ nhang đèn hoa quả lúc nào cũng có, được thành Phật thời còn gì bằng. Còn sướng hơn cả giàu sang vua chúa.
A Di sanh ra trong một gia đình giàu có phải nói là giàu nhất nước La Đề. Muốn gì được nấy còn thiếu thành Phật nữa mà thôi, A Di thấy mình giàu có vàng bạc châu báu thiếu chi. A Di liền đem ngọc ngà châu báu cúng dường cho Phật, cầu thành Phật. Sự cúng dường ấy làm cho Sơn La Tự càng ngày càng bề thế, xây dựng lộng lẫy nguy nga tăng chúng tha hồ hưởng thụ.
Danh tiếng A Di lừng lẫy có nhiều người tôn sùng là Bồ Tát sống. A Di cúng hết tài sản của Ông Cha để lại nhưng nào thấy thành Phật chi đâu. Tụng thuộc làu hết kinh mà quả Phật vẫn xa vời vợi.
Một hôm A Di đến gặp sư Tăng, vị Sư Tăng quyền lực nhất ở La Sơn Tự quỳ lạy nói lên nguyện vọng của mình là cầu thành Phật.
Vị Sư Tăng ấy nói muốn thành Phật phải xuất gia vào chùa cạo đầu đi tu cắt ái ly gia, trì giới mới thành phật.
A Di liền nghe theo vị Sư Tăng vào chùa cắt ái ly gia cạo đầu đi tu, ngày đêm ra sức tụng kinh trì giới, tu trì mãi đến mười năm cũng chỉ là con người bình thường ít tội lỗi hơn người thường tục mà thôi nào thấy thành Phật chi đâu, chỉ thấy lên chức sắc Đại Đức, Thượng tọa. A Di liền ngộ ra xuất gia mấy mươi năm như Sư Tăng giảng kinh thao thao bất tuyệt nhưng nào thấy thành Phật chi đâu. Tu Thiền mấy mươi năm như Thiền Sư Pháp Nhẫn có thể nói là thành tựu nhiều phép tắc thần thông.
Nhưng mỗi khi được hỏi khi nào Thiền Sư thành Phật. Thiền Sư trả lời còn xa lắm. Thì ra là vậy không phải cầu Phật mà trở thành Phật. Thuộc nhiều kinh tạng như Sư Tăng mà thành Phật, không phải xuất gia đi tu mà thành Phật, không phải tu thiền chứng ngộ thần thông mà thành Phật, chỉ là tạo nhân duyên thiện lành để cho mình đi đến quả Phật mà thôi có thể một kiếp hoặc vô lượng kiếp mới thành.
A Di không còn mặn mà gì đến cầu Phật để thành Phật, cầu đọc tụng kinh cho nhiều để thành Phật, không còn phân biệt xuất gia hay tại gia vì không liên quan gì đến thành Phật. Bằng chứng xuất gia như mình đây, ra sức tụng kinh trì giới học đạo thế mà quả Phật còn xa quá.
A Di từ đó để tâm quán tưởng phen lần nhân duyên tìm ra lẽ thật trong Tạo Hóa. A Di lần lần thấu rõ những gì có hình tướng, sắc tướng đều là không thật. Mọi sự vật biến động trong Tạo Hóa là do hàng trăm hàng nghìn Định Luật xoay chuyển, như Luật Tuần Hoàn, Luật Nhân Duyên, Luật Nhân Quả, Luật Vay Trả, Luật Sanh Tử, Luật Trường Tồn, Luật Vô Thường, Luật Có Không, Luật Thường Trụ Bất Biến. Luật Xoay Chuyển, Luật Tự Tại, Luật Hiển Nhiên, Luật Ngẫu Nhiên, Luật Hội Tụ, Luật Phân Ly. Luật Tan Hoại, Luật Không Không. Luật Vô Vi, Luật Thường Vi. Luật Hữu Tướng, Luật Vô Tướng. Luật Biến Hiện. nói tóm lại là hàng trăm hàng nghìn Định Luật. Những Định Luật tạo lên bộ máy huyền vi vũ trụ gọi là bộ máy Càn Khôn. Muốn ra khỏi bộ máy Càn Khôn thời để Tâm Tự Nhiên đi vào Định Luật Tự Tại Vô Trụ.
Mặt Trời Trí Huệ lần lần tỏa sáng, làm chủ các Định Luật vũ trụ có nghĩa là làm chủ Càn Khôn trên đầu liền tỏa hào quang thành Phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Tổ, Chúa Tổ, Thần Tổ.
A Di mỗi lần để Tâm Tự Nhiên đi vào Định Luật Tự Tại vô trụ, tức thời trên đầu phát ra muôn đạo hào quang làm chấn động Linh Sơn Tự cũng như Tam Thiên Đại Thiên thế giới, đi vào Huyền Cơ Tịnh Độ. Ý nghĩa của Tịnh Độ, Tâm Tịnh chính là Độ. Tâm đi đến Đại Định thời đi vào Đại Độ.
Lúc bây giờ bốn bộ chúng theo Phật Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di đều quỳ lạy muốn được nghe pháp thành Phật.
Phật Tổ A Di truyền dạy rằng:
Cầu Phật, để Phật ban cho thành Phật, thời không bao giờ có. Vì gốc thành Phật đều ở nơi Tâm, bỏ cái Tâm mà cầu Phật, dù trải qua vô lượng ức kiếp cũng không thành Phật được. Ta có câu Phật Chú nên lắng nghe.
Lấy Tâm Cầu Tâm
Càng cầu càng xa
Phật ở trong Tâm không cầu
Cầu Phật ngoài Tâm
Bỏ đi Phật Tánh
Lấy đâu thành Phật
Tánh Phật Tự Nhiên
Tâm Phật Lương Tâm
Xa rời tự nhiên
Trái ngược Lương Tâm
Dù cho cầu Phật khắp mười phương
Cũng chỉ là luống công vô ích
Vô Trụ Vô Niệm Tự Nhiên
Ra Khỏi Càn Khôn Trời Đất
Mặt trời Chánh Đẳng Chánh Giác hiện ra
Ra khỏi sanh tử thăng hoa Niết Bàn
Y Văn theo nghĩa mà làm
Ý Giáo thực hành quả Phật đến nơi
Lên ngôi Phật Tổ khó chi
Độ người thành Phật, thi nhau mà thành
Có người hiểu được lời kinh kệ tức thời Minh Tâm Kiến Tánh trên đầu phát tỏa hào quang chứng thành quả Phật.
Có người không hiểu những lời kinh kệ đại thừa vô thượng thậm thâm, bằng thưa rằng. Thưa Phật Tổ làm sao chứng quả vô sanh ra khỏi sanh tử an trụ Niết Bàn.
Phật Tổ A Di dạy rằng:
Chứng quả vô sanh ra khỏi sanh tử cần gì phải tu. Ngộ Chân Tâm Chân Tánh tức là chứng quả Vô Sanh. Chân Tâm, Chân Tánh Bất Sanh Bất Diệt. Đâu phải tu mà đặng trường sanh, chỉ cần giác ngộ Minh Tâm Kiến Tánh thấy rõ Bổn Lai Diện Mục là ra khỏi sanh tử.
Tất cả những người có mặt ở đây đều trải qua vô lượng ức kiếp, mỗi kiếp Linh Hồn vay mượn xác thân, mượn xác thân tạm gọi đó là Sanh. Mượn rồi phải trả đó gọi là Tử. Vay mượn xác thân rồi đến ngày giờ phải trả theo quy luật tự nhiên. Trải qua vô lượng kiếp, có nghĩa Linh Hồn đã vay mượn vô lượng xác thân. Mượn thời phải trả theo Định Luật Vay- Trả vũ trụ. Những gì vay mượn nào phải của mình, mượn thời phải trả đó là theo Luật Tự Nhiên.
Tâm Linh mỗi người vẫn y nguyên, trước sao sau vậy chưa bao giờ có sanh có tử như như thường còn, hết vay mượn thể xác nầy, đến vay mượn thể xác khác, cứ thế trải qua vô lượng kiếp.
Cũng như Lương Tâm Phật Tánh Tự Có không phải tu mà có. Chân Tâm Chân Tánh trường sanh không phải tu mới được trường sanh.
Nhưng gì vay mượn thời phải trả. Hễ vay mượn tạm gọi đó là Sanh. Vay mượn có thời hạn, hết thời hạn thời phải trả gọi đó là Tử. Như vậy Sanh- Tử là chỉ cho thể xác tạm mượn. Nào phải chỉ cho Chân Tâm Chân Tánh của Linh Hồn. Theo định Luật Vũ Trụ hễ có vay, thời phải trả. hể có sinh thời phải tử. Không ai khác ai dù đó là chư Phật mười phương, chúng sanh phàm phu cũng như nhau mà thôi.
Các chư Phật mười phương, chúng sanh nhân loại phàm phu trần gian hể có vay mượn thời phải trả. Các chư Phật vay mượn xác thân bằng kim thân. Nên xác thân có tuổi thọ rất lâu. Còn phàm phu chúng sanh vay mượn xác thân bằng tinh Cha huyết Mẹ nhục thân phàm tục nên tuổi thọ rất ngắn.
Tóm lại: Những gì vay mượn để sanh ra thân xác gọi đó là sanh. Những gì vay mượn đều phải trả gọi đó là tử. Sanh Tử là những thứ vay mượn không phải là Linh Hồn Tâm Linh của chúng ta. Tâm Linh của chúng ta không sanh không diệt, không cấu, không nhiễm trước sao sau vậy như như thường còn. Khi thành Phật Chân Tâm Chân Tánh không có gì thêm, khi còn làm phàm phu chúng sanh Chân Tâm Chân Tánh không có gì bớt, trước sao sau vậy như như thường còn. Liễu ngộ được như thế thời gọi là chứng quả vô sanh, ra khỏi sanh tử. Những gì vay mượn đều phải trả đó là theo Định Luật Tự Nhiên mà thôi.
Có người thưa hỏi rằng chúng con chưa hiểu, có vay thời phải trả đó là Luật. tử cũng là cái mình mượn không phải là của mình nên không có tử. Sanh cũng chỉ là cái mình mượn không phải của mình nên không có sanh, Chân Tâm Chân Tánh vốn không sanh không diệt, khi thành Phật không thêm, khi làm phàm phu như chúng con cũng không bớt vậy tu để làm gì nữa. Xin Phật Tổ chỉ dạy cho.
A Di Phật Tổ nói, Tu có nghĩa là sửa lìa cái mê đi đến cái ngộ. Bỏ cái ác đi đến cái Thiện. Bỏ cái giả tìm đến cái Chân. Nhờ lìa bỏ cái mê đi đến tỉnh ngộ nhận biết được Lương Tâm của chính mình chính là Phật Tánh. Thánh Tánh. Nhờ lìa bỏ cái ác đi đến cái vui an lạc nên Linh Hồn định tỉnh. Nhờ định tỉnh sóng thức yên lặng nên Chân Tâm Chân Tánh hiển hiện.
Ví như mặt Hồ yên lặng mặt Trăng liền hiện rõ. cũng tại do cái Chân Tâm, Chân Tánh bị mê nên không nhận biết được Lương Tâm của chính mình. Nên phải tu. Nếu không tu, cứ mãi hành động gieo nghiệp ác thời vô lượng kiếp sau phải chịu nhiều sự thống khổ do Tâm hành ác gieo ra. Hành Ác thời sa đọa vào tam đồ khổ Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh. Hành Thiện thời siêu lên các tầng trời hưởng phước. Do đó cần phải tu tránh đi những hậu họa về sau, không những kiếp nầy và những kiếp tới.
Tóm lại: Lương Tâm, Chân Tâm Chân Tánh chính là Phật. Chính là Thánh. Nhưng muốn gặt hái quả Phật, quả Thánh thời phải tận độ nhân loại con người. Muốn tận độ nhân loại con người thời phải phát bồ đề Tâm, chính là lập thệ nguyện. Thệ nguyện càng cao thời Phật Quả càng cao. Thệ Nguyện càng rộng lớn thời độ người càng đông. Quốc Độ càng rộng lớn.
A Di nói xong liền phát bốn mươi tám lời đại nguyện khai lập Quốc Độ Tây Phương.
Trong Pháp hội A Di bốn bộ chúng kể cả người xuất gia, tại gia đều chứng quả Phật. Nhiều vị phát bồ đề tâm tận độ nhân loại về trời thành lập Quốc Độ riêng cho mình. Có người cầu siêu sanh về Quốc Độ Tây Phương.
A Di ngâm kệ rằng:
Hồn nào mất, mỗi kiếp đời ta bước
Vạn ức đời, luôn phía trước ta đi
Kiếp trần gian, thử hỏi có đáng gì
Chỉ chớp mắt, là mãn trần lìa bến
Những hành trang, là thiện hay là ác
Trên con đường, gặt hái kiếp gieo nhân
Mà nhận lãnh, sướng vui hay cay đắng
Nơi cõi tạm, hãy làm nhiều phước thiện
Mỗi kiếp đời, là mỗi kiếp luyện tu
Gieo phúc lành, nên ta mãi an vui
Mỗi kiếp đời, phúc hưởng mãi không thôi
Hồn nào mất, mỗi kiếp đời ta bước
Vạn ức đời, niềm hạnh phúc ta đi
71. CHUYỂN LUÂN THÁNH VƯƠNG
Vào thời xa xưa phải nói là rất xa xưa có nước Na Di Đề có Vua Chuyển Luân Thánh Vương trị vì nhân loại hết thảy toàn cầu, gồm thâu hết thảy các Giáo Phái, Tôn Giáo, Đạo Giáo, Thần Giáo, Tiên Giáo, Chúa Giáo, nhân loại đi vào thái bình thịnh trị.
Một hôm các vị Địa Thần, Thiên Thần, Nhơn Thần, về chầu Chuyển Luân Thánh Vương, Địa Thần như Thần Núi, Thần Sông, Thần Hồ, Thần Biển. Thiên Thần như Thần Mặt Trời, Thần Mặt Trăng, Thần Lửa, Thần Ánh Sáng, Thần Gió, Thần Mây, Thần Âm U các vì Tinh Tú. Nhơn Thần, như Thần Công Lý, Thần Hòa Bình, Thần Ban Phước, Thần Giáng Họa, Thần Bình Yên, Thần Chiến Tranh, v.v… Cùng Vương Quan, Vua, Chúa nhiều nước đến tham dự.
Khi tất cả đều an vị chỗ ngồi có vị đại Quan Chánh Án tối cao Pháp Viện A Na từ chỗ ngồi đứng dậy chắp tay hướng về Chuyển Luân Thánh Vương cung kính thưa rằng.
Thưa Đức Chuyển Luân Thánh Vương vì sao Chuyển Luân Thánh Vương lại có quyền lực tối cao Vua trên các Vua. Đạo trên các Đạo như vậy, Chuyển Luân Thánh Vương tu hạnh gì mà được như thế, chúng Thần mong muốn được nghe.
Chuyển Luân Thánh Vương nói rằng:
Nầy Ông Tối Cao Pháp Viện. Ông vì pháp hội nên mới hỏi ta như vậy.
Thật ra Ta cũng chẳng có quyền lực gì tối cao cả, mà Ta chỉ làm theo Ý Trời. Trong vũ trụ chỉ có Trời mới có đủ quyền năng làm nên những chuyện mà Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa không làm được.
Ví dụ Tạo Hóa Cha Trời khai lập lên tam thiên đại thiên thế giới các tầng trời Thượng Thiên, Hạ Thiên vũ trụ. Khai tạo lập lên Thất Sơn châu báu năm non bảy núi Non Tiên Cực Lạc. khai tạo lập lên, Nhật, Nguyệt, Tinh Tú, bốn cõi trần gian, 18 tầng Địa Phủ. Khai tạo lập lên những Định Luật vũ trụ, khai tạo lên ngũ đại Thần Lực, Chân Khí, Nước, Đất, Lửa. thành lập bộ máy Huyền Vi Càn Khôn vũ trụ.
Khai Tạo lập lên muôn loài vạn vật trong đó có con người đều do Tạo Hóa Cha Trời khai Tạo Lập Ra. Ta chỉ có nhiệm vụ là nói rõ Thiên Ý quyền năng của Trời. Cũng như dắt dẫn muôn loài vạn vật. Ma, Quỷ, Yêu Tinh cũng như Nhân Loại trở về Nguồn bổn phận và trách nhiệm con Trời của Ta là như vậy. Vì Ta hết lòng phục vụ làm theo Thiên Ý Cha Trời, nên Cha Trời ban cho phước phần quyền uy tối thắng nói chung là do Cha Trời Tạo Hóa ban cho.
Như các Ông đã biết đại phú do Thiên làm việc cho Cha Trời đương nhiên Cha Trời ban phúc lành sống mãi trong giàu sang an vui cực lạc. Ta chỉ là người chỉ đường mà còn được Cha Trời ban phước lành như thế. Huống chi là những người biết quy thuận Trời, tức là trở về Cội Nguồn của chính mình nơi khai sanh ra Linh Hồn cũng như thể xác, thời nhất định phước phần không kém gì Ta. Vì trong vũ trụ cái gì cũng của Trời. Trời ban cho ai thời người ấy được hưởng.
Ông Tối Cao Pháp Viện nghĩ sao. Tổ Tiên Tạo Hóa hiện thân ra Cha Trời Mẹ Trời sanh ra Nhân Loại con người từ Linh Hồn cho đến thể xác. Nhân Loại con người đi chơi rồi quên đường về. Bỗng có người đến nói đi theo tao làm con của tao người ấy có đức không? Có được Trời ban phước lành không?
Ông Tối Cao Pháp Viện thưa rằng:
Thưa Đức Chuyển Luân Thánh Vương, đáng lý ra thấy con người ta đi lạc quên đường về, một là chỉ đường cho những người con lưu lạc trở về. Hai là dẫn những người con lưu lạc trở về nhà gặp Cha Mẹ Trời mới là người có đức phải nói là đại ơn đại đức. Đằng nầy làm cho con người quên Cội mất Nguồn thất đức thời có, không nói là dẫn người ta lạc vào Ma Đạo, Ác Đạo, Quỷ Đạo. vì bản thân người đó đã là Ma Đạo, Ác Đạo, Quỷ Đạo. hành động trái ngược lại tòa án Lương Tâm. Vì đi cướp con của kẻ khác. Những người như thế làm gì hưởng được ân đức Đại Phú Do Thiên.
Hi Hữu thay Ông Tối Cao Pháp Viện Ông đã làm sáng cái Đức của những người có Đức. Làm rõ cái sai của những người dẫn Nhân Loại xa Nguồn lạc Cội. Để rồi mãi mãi sa đọa vào cảnh chiến tranh hận thù khốn khổ triền miên.
Nầy Ông Tối Cao Pháp Viện, nếu như ai cũng nhận ra mình là con Trời con của Đấng Tạo Hóa. Và họ cũng nhận ra những Quyền mà Tạo Hóa Ban Cho họ ai cũng như ai không ai khác ai. Thời họ cần gì phải theo ai, vì Họ chính là Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Họ có quyền làm chủ vũ trụ vì Cội Nguồn của Họ chính là Đáng Tạo Hóa khai lập lên tất cả Ông Cha Giàu có con cháu hưởng làm chủ là như vậy.
Những người dẫn dắt nhân loại đi sai đường lạc Cội. Đương nhiên Họ không được Cha Trời ban phúc lành Đại Phú do Thiên. Mà chỉ hưởng theo Nhân Quả có làm có hưởng không làm không hưởng. Những người ấy làm gì có quyền năng tối cao vũ trụ. Cũng không có quyền Thay thế Cha Trời dẫn dắt nhân loại vì đã lạc Cội lạc Nguồn.
Nầy Ông Tối Cao Pháp Viện Ông nghĩ sao muốn dẫn dắt nhân loại về Nguồn, thời Ông lấy gì để dẫn dắt.
Thưa Đức Chuyển Luân Thánh Vương, đã là con Trời thời chỉ lấy lời Trời huấn dạy. Chỉ cho nhân loại thấy biết Cội Nguồn của chính mình, cũng như hiểu rõ những Quyền Tạo Hóa ban mỗi con người ai cũng như ai không ai khác ai.
Để cho mỗi con người làm chủ vận mệnh của mình, cũng như làm chủ những Quyền Cơ Bản Tạo Hóa Ban cho ấy, sống theo Thiên Ý cũng chính là sống theo Luật Tạng Vũ Trụ, chính là Hiến Pháp, Luật Pháp đi vào cuộc sống không được vi phạm, vì vi phạm là phạm vào Thiên Ý. Đã phạm vào Thiên Ý thời nhất định bị Thiên Ý chuyển xây nhẹ thời phải đọa làm Ma. Nặng thời phải đạo làm Quỷ nặng hơn nữa thời sa đọa xuống các Tầng Địa Phủ chịu sự hành hình khốn khổ, không có ngày ra.
Hi hữu thay Ông Tối Cao Pháp Viện, Ông đã nói rõ được quyền năng của Trời. Lưới Trời lồng lộng mảy lông cũng không lọt. Ta vì hiểu rõ như vậy nên mãi mãi làm theo Thiên Ý. Thiên Ý cũng chính là Thiên Luật Vũ Trụ. Nên Ta có quyền năng tối cao. Chống lại lời Ta dạy cũng có nghĩa là chống lại Thiên Ý. Ta cần gì trừng trị cũng bị Thiên Ý Luật Tạng vũ trụ xoay chuyển hủy diệt. Ta làm theo Ý Trời Thiên Ý nên không ai có thể chống lại được. Thuận Thiên thời tồn tại, nghịch Thiên thời tiêu vong.
Sự tùng phục của Thiên Hạ đối với Ta là do Họ tùng phục Trời vậy. Vì Ta làm việc cho Trời nên Họ tùng phục Ta. Nếu Ta không làm việc cho Trời thời lấy đâu ra quyền năng thiên hạ hướng về Ta.
Nói Tóm Lại: Những người hành sự theo Thiên Ý đều là những người có quyền lực tối cao, những người truyền dạy lời Trời dạy là những người có địa vị tối cao. Những người dìu dắt nhân loại về Nguồn là những người có đức tối cao. Những người tôn trọng bảo vệ những Quyền cơ bản Tạo Hóa ban cho là những người có tư cách nhân cách phẩm hạnh cao ai cũng kính trọng nể phục. Những người thông hiểu những Định Luật vũ trụ là những người trí huệ tối cao.
Sự tối cao không phải là tự xưng Ông nầy Bà nọ mà là căn cứ theo sự hiểu biết chứng ngộ của mình hành sự làm theo Thiên Ý.
Đất nước Na Di Đề tuy là một đất nước nhỏ, nhưng lại là nơi Văn Hóa Cội Nguồn, Văn Hóa Tối Cao Vũ Trụ Thiên Ý ra đời, đương nhiên nhân loại toàn cầu hướng về Đất Nước Na Di Đề tất cả là do Thiên Ý đã an bày không phải nước Na Di Đề tài ba lỗi lạc chi đâu.
Tóm lại: Những người Làm theo Thiên Ý vận hành Thiên Ý đi vào cuộc sống làm cho nhân loại thấm nhuần Thiên Ý thấu suốt Cội Nguồn trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa an vui tự tại. Đều trở thành Chuyển Luân Thánh Vương từ thấp lên cao tùy theo công sức của mình mà thành tựu. Đức Chuyển Luân Thánh Vương vừa tuyên thuyết xong thời vô số Vương, Quan, Các vị Thần, Thiên Thần, Nhơn Thần, Địa Thần đã hội ngộ đi vào quả vị Chuyển Luân Thánh Vương.
72. CÂU CHUYỆN HUYỀN CƠ
Ngã tư bà quẹo nổi tiếng là có bốn nhân vật kỳ quái Hai Bình, Ba Luận, Bốn Giải, Năm Đề không ai là không biết, bốn nhân vật nầy rảnh rỗi thường đến với nhau, hết mổ xẻ chuyện đông rồi đến chuyện tây, chuyện nào cũng ra phết, ở cạnh nhà Hai Bình là quán cà phê nhiều vị khách lắng nghe say sưa.
Cũng như ngày nào Hai Bình chăm sóc mấy chậu hoa cây cảnh xong thời có khách, không Ba Luận thời Bốn Giải đến chơi, Hai Bình đang tưới hoa hắt hơi vài cái Hai Bình nghĩ thầm hôm nay tứ quái đủ mặt hay sao mà hắt hơi dữ quá. Hai Bình vừa tưới hoa xong thời nghe tiếng xe máy đi vô cổng không phải một người mà có đến ba người, Hai Bình nói chà linh thiệt tam quái đã đến, Hai Bình tiếp đón niềm nở rồi cười nói chuyện lạ sắp mở màn rồi đây.
Hai Bình kêu bốn ly cà phê chế bình trà thượng hạng cả bốn người vừa uống cà phê vừa nói chuyện linh tinh tình hình xã hội, bước qua tuần trà.
Năm Đề nói hễ nói đến thời cuộc vận mệnh xã hội thời người ta thường đề cập đến Huyền Cơ không lẽ có sự sắp xếp của Ông Trời.
Ba Luận nói đúng vậy. Vận thời đi khỏi ông giỏi cũng chẳng làm được gì, tài hay cho mấy nhưng vận thời không có làm lớn thời lỗ lớn làm nhỏ thời lỗ nhỏ, biết bao doanh nghiệp phá sản khóc đứng khóc ngồi.
Bổn Giải nói. Ba Luận nói cũng phải những người thất bại thường là những người không nắm bắt được thời cơ, không tận dụng được thời cơ, người thành công nhất vẫn là người nắm rõ thời cơ, hiểu rõ vận thời, mùa rét thời bán áo lạnh, mùa nóng thời bán nước đá, còn không bán áo lạnh, bán nước đá, thời đi vào trung lộ kinh doanh buôn bán những mặt hàng mùa nào người ta cũng dùng.
Hai Bình nói. Hiểu rõ Huyền Cơ. Tận dụng thời cơ là như thế nào? có ai thấy được Huyền Cơ chưa, nếu chưa thấy cũng chỉ là đoán mò. Thấy trời mưa liền đi buôn áo lạnh thời chưa gọi là nắm bắt thời cơ, nắm bắt thời cơ là biết mùa Đông sắp đến ta đã chửng bị số lượng áo lạnh áo mưa để mà bán. Như vậy người nắm bắt thời cơ là người phải hiểu sự chuyển vận của Trời Đất. Trời chuyển Đông thiên hạ sống theo Đông, Trời chuyển Xuân thiên hạ sống theo Xuân, nắm rõ chu kỳ luân chuyển Xuân, Hạ, Thu, Đông, chu kỳ luân chuyển đó chính là sự sắp xếp theo Luật Tuần Hoàn vũ trụ gọi là Huyền Cơ.
Nắm bắt Huyền Cơ là hiểu rõ chu kỳ luân chuyển Xuân, Hạ, Thu, Đông. Thấy Xuân đến theo xuân đó gọi là theo thời theo thế không phải là nắm bắt thời cơ.
Nắm bắt thời cơ là chửng bị trước khi mùa Đông đến, làm chủ thế cuộc vì Đông đến thiên hạ sống theo Đông. Những gì thiên hạ sống theo Mùa Đông thời ta đã chửng bị thứ mà thiên hạ cần.
Năm Đề nói xen vào. Nói đến Huyền Cơ là nói quy luật Luân Chuyển Tuần Hoàn không phải là Xuân, Hạ, Thu, Đông. Mà còn nói đến các chu kỳ Tuần Hoàn khác nữa như chu kỳ Thượng Ngươn, Trung Ngươn, Hạ Ngươn trong một nghìn năm. Chu kỳ Thượng Ngươn, Trung Ngươn, Hạ Ngươn trong mười nghìn năm.
Chu kỳ Thượng Ngươn, Trung Ngươn, Hạ Ngươn trong một triệu năm. Nói rộng hơn nữa là chu kỳ Tuần Hoàn một tiểu kiếp Thượng Ngươn, Trung Ngươn, Hạ Ngươn 16 triệu 800 nghìn năm.
Ba Luận nói chu kỳ một nghìn năm chia làm ba giai đoạn Thượng Ngươn Thánh Đức. Trung Ngơn Nhơn Đức. Hạ Ngươn Mạt Pháp, mỗi chu kỳ kéo dài 3 trăm 33 năm.
3 trăm 33 năm đầu nghìn năm tức là Thượng Ngươn Thánh Đức. Khác với chu kỳ Hạ Ngươn Mạt Pháp 3 trăm 33 năm những thập niên cuối chu kỳ nghìn năm. Chu kỳ Thượng Ngươn Thánh Đức chơn Dương rất mạnh phù hợp với chân thiện con người, không phù hợp với Tà Ác. Vì thế Chánh Pháp ra đời tận độ nhân loại con người về trời.
Đến chu kỳ Hạ Ngươn Mạt Pháp chơn Âm hưng thịnh phù hợp với tánh ác vì thế cái ác nổi trội đè bẹp cái thiện. Nên gọi là thời Mạt Pháp.
Bốn Giải nói đến giờ nầy tôi mới hiểu thế nào là Hạ Ngươn Mạt Pháp. Khi chu kỳ Hạ Ngươn Mạt Pháp mở màng thời những học thuyết tà đạo, những mưu mô hiểm độc, những thể chế phi nghĩa sanh ra ở thời Hạ Ngươn Mạt Pháp đạo đức con người xuống cấp.
Nhưng đến khi Cơ Thượng Ngươn Thánh Đức ra đời chơn Âm bị đẩy lùi cái ác lần lần bị hủy diệt vì không còn phù hợp, thay vào đó là Chân Thiện ra đời đi vào Cơ Thượng Ngươn Thánh Đức. Những gì sanh ra trong thời Mạc Pháp gần cuối chu kỳ một nghìn năm, sẽ bị hủy diệt lần theo chu kỳ Thượng Ngươn Thánh Đức ra đời. Chủ Nghĩa Cộng Sản sẽ không còn vì Chủ Nghĩa Cộng Sản sanh ra trong thời Hạ Ngươn Mạt Pháp. Không cần đánh phá cũng tự biến tan khi Thượng Ngươn Thánh Đức ra đời.
Đầu Kỉ Nguyên Thượng Ngươn Thánh Đức mở màn đi vào chủ nghĩa chân thiện, chủ nghĩa chân thiện chính là chủ nghĩa Đại Đồng, chủ nghĩa đỉnh cao của Đa Nguyên, Nhân Quyền, Dân Chủ đi vào cuộc sống mùa xuân.
Hai Bình nói: mỗi người đã mở ra một tia sáng làm tôi tỉnh ngộ theo cơ sấm nói mười phần hết bảy còn ba hết hai con một mới ra thái bình. Không phải là nói nhân loại con người chết hết bảy còn ba, chết hết hai còn một mới ra thái bình. Vì chưa tới chu kỳ Thủy Tai gần cuối tiểu kiếp. Mà là nói những gì sanh ra ở thời Hạ Ngươn Mạt Pháp ví dụ như chủ nghĩa Vô Thần, sẽ bị hủy diệt xóa bỏ chỉ còn lại một phần mà thôi. Những ai giác ngộ sớm họ từ bỏ chủ nghĩa vô thần, tránh đi hậu họa.
Qua câu chuyện trên ta có thể hình dung ra mà thấu rõ Huyền Cơ. Ở vào giai đoạn Thượng Ngươn Thánh Đức, đương nhiên Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa trên các cõi trời lâm phàm xuống thế phải nói là rất nhiều để lập công trong Văn Hóa Cội Nguồn tiến hóa lên ngôi vị cao hơn, cũng như thành lập quốc độ các cõi nước trời. Cơ hội hàng triệu năm đâu thể bỏ qua ra sức gieo trồng Thiên Ý. Gặt hái phúc báo vô tận vô biên kiếp về sau.
Tứ Quái mỗi người nói lên sự hiểu biết của mình làm sáng tỏ được Thiên Ý Huyền Cơ. Thậm chí nắm bắt được Huyền Cơ mở ra một tương lai mới. Ông Thời đã có, Ông giỏi ra sức, thuận buồm xuôi gió làm đâu đặng đó, tài lộc kéo đến ào ào như trận mưa rào mặc sức tha hồ mà hưởng.
73. CÔNG CHÚA LA NA
PHẦN 1
Ngày xửa ngày xưa ở nước Pha Ra, ở làng Phù Sa, Huyện Đông Lộ dân chúng rất đông làm ăn khấm khá trồng cây gì cũng tốt, nuôi con gì cũng mau lớn vì lượng phù sa bồi đắp hàng năm.
Có cặp vợ chồng rất nghèo Ông Bà Mô Ly không bao giờ lấy của ai dù là cây kim sợi chỉ, ăn ở hiền lành, ai cần gì cũng giúp. Dân Làng ai cũng mến thương. Ông Bà Mô Ly sanh được một cậu con trai đặt tên là Ta Di khôi ngô tuấn tú nhất là cặp mắt sáng ngời.
Ta Di lớn lên càng thông minh nhất là chịu khó luôn theo cha mẹ làm lụng suốt ngày tuy mới bảy tuổi nhưng giỏi giang ít ai bằng.
Cha của Ta Di một hôm phát bệnh rồi qua đời không bao lâu thời người mẹ cũng theo cha mà đi. Bỏ lại Ta Di mồ côi mồ cút Ta Di tuy không còn cha mẹ nhưng làm ăn rất giỏi nuôi gà tỉa ngô trồng khoai cũng đủ sống dân làng không ai là không nể phục sự chịu khó của Ta Di.
Cũng vào thời ấy làng Phù Sa xảy ra một chuyện kỳ lạ ba năm liền có làm mà chẳng có ăn lúa ngô toàn là hạt lếp khoai sắn trồng không có cũ toàn là rễ nhưng không vì thế mà chết đói vì màu xanh vẫn còn dân tình khốn khổ vô cùng.
Bỗng một hôm trên bầu trời mây đen ùn ùn kéo đến, trên đám mây đen một con mãng xà to lớn xuất hiện nói với dân làng rằng nếu muốn được mùa, cũng như nuôi con gì cũng mau lớn mau đẻ, làm đâu trúng đó làm gì được nấy không bao lâu sẻ dư ăn dư mặc, thời làm cho ta một cổ miếu hàng năm dâng cúng cho ta một đứa trẻ nhỏ từ năm tuổi đến 10 tuổi. Bằng không thời như dân làng thấy đó trồng cây toàn là quả lép, trồng khoai sắn toàn là rễ không có củ dân làng sẽ chết đói cũng như nạn dịch xảy ra chết cả làng. Dân làng nghe xong thời sợ quá nhưng bỏ làng ra đi thời biết sống ở đâu.
Không còn con đường nào khác dân làng Phù Sa làm cho con Mãng Xà thành tinh một cổ miếu khang trang. Làng Phù Sa họp tất cả dân làng lại để có sự công bằng đi vào bốc xăm, những gia đình có con nhỏ đều phải bốc xăm trong đó chỉ có một cây xăm đề ký hiệu dâng nạp trẻ con cho Mãng Xà chỉ riêng Ta Di vì mồ côi cha mẹ không đi vào bốc xăm vì tuyệt hậu không còn người nối dõi.
Quả đúng như lời Mãng Xà Trăn Quỷ hứa, cuộc sống làng Phù Sa trở lại như cũ trồng cây gì cũng tốt hoa quả sum sê, nuôi con gì cũng mau lớn chóng để cuộc sống ấm no trở lại.
Đến năm thứ ba không may gia đình Ca Lô bốc trúng ký hiệu nộp con cho mãng xà tuy đông con nhưng toàn là gái duy nhất có một bé trai chín tuổi gia đình Ca Lô khóc lóc thảm thiết, đã dâng cúng cho Mãng Xà là ra đi vĩnh viễn không còn trở lại, trở thành tuyệt tự không còn con trai nối dõi tông đường.
Ta Di ở gần nhà Ca Lô nghe khóc kể thảm thiết, động lòng thương xót nghĩ mình chỉ có một mình không người thân thôi thì thế mạn cho con họ cũng là một chuyện làm tốt để cho gia đình họ có con có cháu nối dõi tông đường nhất là sum hiệp an vui hạnh phúc. Đến ngày dâng nạp Ca Lô ôm người con trai bé nhỏ cùng gia đình khóc như mưa. Ta Di bằng dõng dạc nói tôi mồ côi không còn ai dù có chết đi cũng không lấy gì làm tiếc không có ai đau lòng vì tôi, cũng không có sự chia ly người thân nào cả, còn em bé kia còn cha còn mẹ, nhiều chị em sum vầy vui vẻ tôi đi nộp mạng thay cho. Hơn nữa năm nay tôi mười tuổi còn nằm trong diện dâng nạp cho Mãng Xà Tinh được.
Cả làng nghe Ta Di tự nguyện cống hiến đời mình thay thế cho người khác, một việc làm không ai ngờ đến dám hi sinh cuộc đời nạp mình cho Trăn Quỷ, để cho Ca Lô có người nối dõi Tông Đường cũng như an vui hạnh phúc gia đình, cả làng Phù Sa ai cũng khóc ròng nhất là cả gia đình Ca Lô quỳ xuống lạy Ta Di.
Những vị trưởng lão trong làng lau chùi nước mắt chạy tới nắm lấy tay Ta Di nói không được đâu con gia đình con chỉ còn lại một mình con, phụng sự hương khói cho cha mẹ.
Ta Di dõng dạc nói; Thưa các trưởng lão khi cha mẹ còn tại thế thường dạy con rằng trần gian chỉ là nơi cõi tạm, vì vậy sống phải có ích cho đời, sống vì người gieo trồng thiện đức, thiện đức sẽ vĩnh viễn theo mình.
Con sinh ra trong tình thương yêu của Cha Mẹ cũng như sự bảo bọc của xóm làng. Giờ đến lúc con phải làm một việc mà con phải làm, con cảm thấy vui. Không gì vui hơn là thấy gia đình bác Ca Lô đây hay gia đình khác cũng vậy được hạnh phúc.
Chắc Cha Mẹ con nơi chín suối vui lắm khi thấy con làm một việc hữu ích cho đời, đem lại hạnh phúc cho người con quyết định rồi các chú các bác các ông đừng khuyên can nữa. Cả làng nghe những lời nói Ta Di như những tiếng sấm vang đánh thức lương tâm con người trở về con đường chân thiện, sống vì người quên cả thân mình, hạnh phúc của xóm làng cũng chính là hạnh phúc của mình. Cả làng tôn kính Ta Di như là Thần Thánh làm heo làm gà thiết đãi Ta Di, vì ngày mai Ta Di sẽ đem thân nạp mạng cho quỷ.
Những món gì ngon nhất dân làng cũng đem cho Ta Di ăn.
Lại một ngày trôi qua ngày nộp mạng cho xà tinh đã đến, mặt trời sắp lặn sau những dãy núi, bầu trời u ám ánh hoàng hôn bao phủ nỗi buồn, cả làng tiễn chân Ta Di đến cổ miếu, nhìn cổ miếu cách đó không xa dân làng vô cùng sợ hãi. Thế mà Ta Di vẫn tỉnh bơ xem thường sự sống chết.
Ta Di tiến về phía trước cách xa dân làng Ta Di quay đầu nhìn lại phất tay như chào vĩnh biệt dân làng không cầm được nước mắt có người bật khóc, tiếng khóc nghẹn ngào thật là thảm thiết làm sao.
Ta Di đi thẳng đến ngôi cổ miếu ngâm mấy câu thơ
Ta sẽ theo về với Cha Ông
Tạm biệt trần gian, với chúng dân
Bên kia thế giới, ta nhớ mãi
Nhớ cả quê hương, lẫn núi sông
Hoàng hôn lịm tắc bóng đêm dần dần phủ khắp non sông núi rừng chìm trong tĩnh mịch, ánh trăng vắt vẻo trên ngọn cây thỉnh thoảng tiếng xào xạc vang lên trong đêm những bước chân trên lá, pha lẫn tiếng côn trùng khắp nơi khắp chốn, tiếng hổ gầm, tiếng sói tru, tiếng cú kêu nghe sao mà ớn, trời tuy không lạnh nhưng cảm thấy rợn gáy nổi da gà.
Trên bầu trời mây đen xuất hiện bao trùm rừng núi cuồng phong nổi lên cát bay đá chạy từ trên không một bóng người bay xuống thì ra con Quỷ Mãng Xà đã hiện thành người mặt mày trông hung dữ hai con mắt lòi ra với những chiếc nanh dài thoàng nhọn hoắt nhìn thấy mà rợn tóc gáy. Hai con mắt phát ra hai luồng ánh sáng như hai ngọn đèn pha những người yếu bóng vía nhìn thấy là chết ngất.
Con Quỷ bước vào ngôi cổ miếu nhìn thấy Ta Di ngồi xếp bằng như những vị Phật, uy nghi như những vị Thánh sắc mặt không hề sợ hãi con quỷ vô cùng kinh ngạc nghi ngờ không lẽ Thánh Thần nào hóa ra, liền hỏi tiểu tử ngươi không sợ sao?
Ta Di nhìn con quỷ rồi trả lời chết ta còn không sợ, thời sợ gì con quỷ nhà ngươi. Con Xà Quỷ nghe Ta Di nói thế không hề tức giận còn tỏ ra khoái chí nói, ăn thịt ngươi còn hơn ăn thịt mười em bé khác. Con quỷ liền chụp Ta Di bay lên mây bay về hang động không thấy đáy. Con quỷ vừa hạ chân xuống đáy hang động thấy có một bóng người liền ném Ta Di vào một xó động quát lên dữ dội yêu tinh ở xứ nào dám đến chiếm động của ta. Tức thời một cuộc chiến xảy ra khủng khiếp.
Ta Di nhìn thấy Xà Quỷ đấu với một người mặt chim ưng trận giao chiến vô cùng khốc liệt người mặt chim ưng hình như yếu thế bay lên khỏi hang động. Mãng Xà Trăn Quỷ rượt đuổi theo.
Ta Di biết thế nào mình cũng bị Trăn Quỷ ăn thịt, nếu sống thời không thể nào ra khỏi hang động không thấy đáy nầy được. Tánh tò mò trẻ con nổi lên Ta Di lục lạo khắp nơi phát hiện ra một ngách hang động Ta Di đi ngay vào đáy sâu bên trong là một căn phòng rộng lớn Ta Di nhìn thấy một người bị nhốt trong một cái lồng sắt Ta Di kinh ngạc hỏi ông là ai?
Người trong lồng sắt nói Ta là Thần Núi dãy chu sơn nầy bị con Trăn Quỷ bắt nhốt mấy trăm năm nay pháp thuật Trăn Quỷ cao siêu không biết bao nhiêu vị Thần chết trong tay nó. Đây là cơ hội để giết được nó không những ngươi cứu được ta mà còn làm chủ một kho báu, trong đó có rất nhiều báu vật mà người đời thèm muốn vô cùng.
Con Mãng Xà Quỷ hiện giờ đang chiến đấu với đại bàng tu luyện thành tinh hai bên giao tranh dữ dội thương tích đầy mình nhưng ta biết hai bên đều bỏ cuộc bất phân thắng bại ai về động nấy. Tiểu tử ngươi hành động nhanh lên mau tới đây ta chỉ cách tiêu diệt con Trăn Quỷ không những cứu ta cứu được ngươi, còn cứu được dân làng Phù Sa khi con Mãng Xà Quỷ đã bị ngươi tiêu diệt.
Con Trăn Quỷ đang tu luyện Âm Dương Thần Đơn hơn nghìn năm sắp thành rồi chỉ còn hút lấy tinh khí mười đứa trẻ nhỏ nữa là thành mà chính tinh khí trong người ngươi bằng mười đứa trẻ nhỏ. Giết được con tinh quỷ nầy chỉ có ngươi làm nổi mà thôi.
Ta di liền bước tới lồng sắt. Thân Núi Chu Sơn lấy trong mình ra một thanh kiếm nhỏ trao cho Ta Di nói đây là Thần Kiếm chém sắt như chém bùn. Chỉ cần ngươi niệm chú thời thanh kiếm sẽ lớn ra như ý. Ngươi mau chui qua khe hở bí mật nầy, nơi ấy chính là nơi tu luyện Âm Dương Thần Đơn, tìm thấy Thần Đơn là ngươi nuốt ngay vào bụng ngươi sẽ có công lực hàng nghìn năm tu luyện ngươi sẽ hạ gục được nó. Nhất là khi con Mãng Xà quỷ còn đang bị thương.
Theo lời chỉ dẫn Thần Núi Chu Sơn Ta Di lách mình chui qua một khe vách đến một đường hầm ăn sâu tới một căn phòng nơi có phát ra ánh sáng Ta Di nhìn thấy một viên Thần Dơn to như quả trứng gà, từ Thần Đơn phát ra muôn đạo hào quang trông đẹp mắt vô cùng Ta Di bước nhanh đến nhặt lấy Thần Đơn bỏ ngay vào miệng viên Thần Đơn tan ra rồi trôi xuống bụng hết thảy. Ta Di thấy trong người nóng lên như lửa vô cùng kinh hãi chưa biết phải làm sao thời nghe tiếng nói vọng tới bày cho cách thu nạp chân khí vận hành thần đơn lưu chuyển khắp châu thân. Âm Dương Thần Đơn vận chuyển đến đâu thời huyệt đạo kinh mạch đều thông suốt đến đó, thân hình nhẹ bỗng như muốn bay lên. Tiếng nói Thần Núi Chu Sơn lại vang lên tiểu tử ngươi mau trở về chỗ cũ nằm im co ro trong xó con Mãng Xà Tinh Quỷ sắp trở về rồi.
Ta Di nhanh chóng trở lại đường cũ ra khỏi ngách động tới nơi xó động nằm im thiêm thiếp.
Con Mãng Xà Tinh Quỷ bay xuống động trên người dính đầy máu. Việt đầu tiên nó nhìn Ta Di còn ở đó không nó thấy Ta Di ngồi co ro sợ thiêm thiếp trong xó. Nó liền yên tâm hiện thành một con Mãng Xà to lớn cuộn mình vận công chữa thương. Ta Di thấy từ con Mãng Xà một lớp sương mờ tuôn ra bao phủ tức thời bên tai tiếng nói vo ve như con muỗi hành động ngay đi đâm Thần Kiếm vào ngay cỗ của nó đâm càng nhiều càng tốt. Ta Di vốn là người dũng cảm không biết sợ là gì Ta Di lấy kiếm ra niệm chú tức thời kiếm Thần lớn dài ra bằng thanh kiếm người đời thường sử dụng. Lao nhanh tới đâm lia lịa vào cổ con Mãng Xà Tinh Quỷ. Quá bất ngờ con Mãng Xà Quỷ trúng liền mười nhát kiếm máu tuôn xối xả. Con Mãng Xà gào thét dữ dội phun ra luồn yêu khí giết chết Ta Di nào hay Ta Di không hề hấn gì còn quát lên một tiếng long trời lở đất thanh kiếm thần trong tay vung lên chém tới con Mãng Xà Tinh Quỷ liền hiện ra một con quỷ những móng vuốt chụp tới xé xác Ta Di nào hay kiếm Thần vô cùng sắc bén cộng thêm hàng nghìn năm công lực Âm Dương Thần đơn con Quỷ bị chém đứt làm ba khúc hiện nguyên hình là con Mãng Xà đứt làm ba khúc.
Cùng lúc ấy một tiếng nổ vang lên khung lồng sắt tan biến đâu mất Thần Núi Chu Sơn từ trong ngách động đi ra lạy tạ ơn cứu mạng. Ta Di bằng trả kiếm Thần lại cho Thần núi.
Thần Núi Chu Sơn nói ơn cứu mạng không có gì để đền đáp, nay Chu Sơn Thần Núi Ta kính tặng ân nhân cây Thần kiếm làm hộ thân cũng như ân nhân dùng nó để giúp đời cứu người.
Thần Núi Chu Sơn nói xong liền biến mất. Ta Di đến lúc nầy mới sực nhớ là mình còn ở dưới đáy động làm sao mà lên cho được. Nhưng Thần Núi cũng đã đi rồi biết làm sao đây. Ta Di biết mình không thể nào ra khỏi đây được nhưng nhờ uống được Âm Dương Thần Đơn nên không thấy đói khát chi cả quan sát hang động thấy có nhiều ngóc ngách tức thời ra sức khám phá nhưng không thấy gì khác lạ ngoài vách đá bốc mùi âm u hơi lạnh tràn ra tạo thành dòng nước chảy róc rách Ta Di đi trở ra chỗ con Xà Tinh Quỷ chết nhìn lên vách đá có một chỗ nhìn khác lạ bằng lấy tay chùi đi lộ ra dòng chữ u linh ma động. Ta Di bấy giờ đôi mắt rất sáng nhìn thấy một dấu bàn tay lờ lờ Ta Di liền lấy bàn tay của mình ấn mạnh vào chỗ đó liền nghe tiếng rè rè một ngách động từ từ mở ra Ta Di lấy làm kinh ngạc chắc con Quỷ Mãng Xà cũng không biết chỗ nầy.
Ta Di liền đi vào đó đi hơn mười mấy bước thời đến một mật thất rộng lớn có một phiến đá bằng phẳng sáng bóng hơi lạnh bốc ra kinh người ngoài ra không còn gì nữa Ta Di định quay ra chợt nhìn thấy trên vách đá có bàn tay Ta Di liền đặt bàn tay mình lên đó nhấn mạnh một cái tức thời nghe tiếng rè rè xảy ra cánh cửa đá vừa mở bên trong sáng rỡ bước vào thời thấy những viên minh châu to lớn kỳ lạ phát tỏa ánh sáng làm cho mật thất nhìn đâu cũng thấy rõ ràng. Trên bàn đá có một bộ xương có lẽ người nầy viên tịch rất lâu.
Ta Di quỳ lạy khấn vái rằng; Con tên là Ta Di với bậc tiền bối có tiền duyên nên con mới đến được đây. Nếu con được Tiền Bối chỉ dạy thời con gọi Tiền Bối là Sư Phụ. Lạy xong Ta Di liền thấy bộ xương lay động rồi đổ nhào dưới bộ xương khô có một cái hộp bằng vàng lổn sâu dưới kệ đá. Ta Di bằng lấy chiếc hộp rồi mở ra trong đó có một cuốn bí kiếp cùng một tấm da. Có dòng chữ nói rằng vô cực bí pháp thần công là môn tuyệt học võ lâm chí tôn, người luyện được võ công nầy phải là người có căn cốt thượng đẳng phải mất 50 năm mới đạt đến đỉnh cao mười hai thần công lực. Nếu ngồi trên thạch băng luyện công phải mất 20 năm mới thành. Cuốn bí kiếp võ công chia làm ba phần nội công bí pháp, vô cực kiếm pháp, phi hành bộ pháp. Ta Di nghĩ 20 năm thời 20 năm mình đâu còn ai thôi thì chuyên tâm tu học để quên đi tất cả.
Ta Di nghĩ đến lấy gì ăn để sống liền nhớ đến con Mãng Xà Tinh Quỷ đã tu luyện hàng nghìn năm ăn thịt Tinh Quỷ tu luyện võ công thời còn gì bằng. bằng xẻ thịt Tinh Quỷ lấy da còn thịt thời bỏ vào phòng lạnh, khi nào thấy đói thời dùng thịt Trăn Quỷ.
Thời gian thấm thoát trôi qua tu luyện Thần Công thời ngồi trên băng đá, luyện chiêu pháp thời ra ngoài đáy hang động u minh. Không biết là đã bao lâu Ta Di trở thành một chàng trai khôi ngô tuấn tú võ công cũng đã học hết không còn gì để lưu luyến ở lại nơi đây. Dưới đáy u minh có một loại dây leo bò trên vách đá thân nhỏ như cây kinh nhưng người thường khó mà bứt cho đứt dây leo nầy đã mười lần nở hoa Ta Di nghĩ không lẽ đã mười năm trôi qua rồi sao.
Áo quần xưa kia không còn mặt được nghĩ đến da Trăn Tinh Quỷ vô cùng quý hiếm đao kiếm thường khó mà chặt đứt Ta Di từ nhỏ được cha mẹ dạy cho cắt vải may đồ. Da Trăn Quỷ rất mỏng mềm mại đến kỳ lạ nhưng đao kiếm thường khó mà cắt đứt, Ta Di lấy thanh kiếm nhỏ cắt da Trăn Tinh Quỷ ra nhiều bộ phận khâu vá thành bộ quần áo vừa vẹn trông thật khéo léo không khác gì tay thợ chuyên nghiệp. Ta Di khâu một túi xách chọn lấy những viên minh châu to lớn phát tỏa hào quang lấp lánh trông đẹp mắt vô cùng, những thỏi vàng sáng chói bấy nhiêu đó cũng thành giàu có trên đời. Ta Đi vào lạy Vô Cực Tổ Sư ấn bàn tay vào vách đá đóng cửa mật thất lại rồi trở ra nơi đáy động ấn bàn tay đóng luôn cửa ngách động trở lại như cũ.
Đứng dưới đáy động Ta Di nhìn lên thăm thẳm không thấy miệng hang nhưng nhờ học được kinh công cái thế Ta Di phi thân vun vút bay lên lấy chân đạp vào vách đá cứ thế tiếp tục phi thân vun vút bay lên không bao lâu thời tới miệng hang. Ta Di phi thân bay lên một tảng đá cao nhìn núi rừng trùng điệp, một cơn gió thoảng lá vàng rơi đầy mặt đất, nhìn lại thân mình không còn như đứa trẻ ngày xưa, giờ đây cũng đã mười chín tuổi. Nhìn lá vàng trải đầy mặt đất cảm xúc trong lòng liền ngâm mấy câu thơ.
Bao mùa lá rụng, lá vàng rơi
Thu đến thu đi, thu lại sang
Thân người cũng đã, nhiều thay đổi
Mới đó giờ đây, trở thành chàng
Lối gió đường mây, chung hơi thở
Khói lên nắng xuống, đất thênh thang
Bốn bể là nhà, đâu cũng thế
Thường dân cũng được, nệ gì quan
Ta Di không biết nơi đây là đâu chỉ nghe Thần Núi nói có lẽ dãy núi nầy chính là dãy núi Chu Sơn. Không hiểu quê mình cách đây bao xa đi về hướng nào. Ta Di phi thân một ngày đêm thời tới đồng bằng Ta Di đi vào một xóm làng phải nói là trù phú màu xanh tăm tắp lúa ngô cùng khắp, khoai sắn đầy nương cảnh ấm no không khác gì quê làng Phù Sa, Ta Di liền ngâm mấy câu thơ.
Ngắm cảnh nơi đây nhớ quê nhà
Cũng đồng cũng ruộng, rộng bao la
Lúa ngô, khoai, sắn, xanh tươi tốt
Bầy cò trắng lã, vụt bay qua
Tay cày tay cuốc, bao trai gái
Tiếng hát trên đồi, những ngân nga
Một miền thôn dã, đầy ấm cúng
Bao cô thôn nữ, tựa như hoa
Ta Di ngâm xong liền nghe thấy tiếng vỗ tay khen ngợi không dứt từ phía sau nổi lên huynh làm thơ hay quá. Ta Di quay đầu nhìn lại thấy một người thanh niên hào hoa phong nhã Ta Di thi lễ nói chào công tử.
Người thanh niên hào hoa đáp lễ nói tôi tên là Ca Ra ở thị trấn Cô Lô gần đây. Hai người làm quen với nhau có lẽ tâm đầu ý hợp nên coi nhau như bạn, không bao lâu thời tới thị trấn dân chúng đông đúc, người mua kẻ bán tấp nập. Ca Ra nói ở thị trấn nầy có một quán ăn nổi tiếng món gì cũng có chỉ sợ không có tiền. Ta Di nghe nói bụng dạ cồn cào vì chín mười năm nay chưa có bữa ăn nào cho ra phết bằng nói huynh dẫn tôi đến quán đó đi vì tôi là người phương xa không rành nơi nầy.
Ca Ra liền dẫn Ta Di đến, quán ăn bề thế sang trọng người đông có đến cả trăm người, Ta Di Ca Ra vừa ngồi xuống bàn, người phục vụ hỏi dùng món gì Ta Di nói món nào đắc nhất vài ba món dọn lên đây, Ca Ra kinh hãi nói chỉ cần một món cũng vài chục lượng bạc kêu nhiều món như vậy chỉ tính cho chủ quán bằng vàng mà thôi. Ta Di nói không hề gì huynh cứ thoải mái mà dùng cùng tôi. Những người khách ngồi gần bàn Ta Di nghe Ta Di nói như thế quay sang nhìn. Họ thấy Ta Di ăn mặt kỳ lạ chỉ là một bộ quần áo da trăn, người trên núi mới xuống đồng bằng có lẽ kiến thức ẩm thực còn kém mới kêu những món ăn thượng hạng hàng ngoại nhập của nhiều nước lấy vàng đâu mà trả.
Những nhà giàu có, chỉ dùng một món mà còn hít hà ăn cho biết.
Người ta nhìn thấy trên bàn Ta Di nào là Phi-le bò Ko-be, cua nhện hoàng đế, bánh cup-cake phượng hoàng, trứng cá muối hoàng đế. Ca Ra nhìn thấy những món trên bàn toàn là món ăn thượng đẳng chỉ nghe nói chưa bao giờ nhìn thấy nói gì đến ăn. Ca Ra nhìn Ta Di nói có vàng trả không huynh. Ta Di nói yên trí đi ăn hết kêu nữa.
Ca Ra tưởng mình nghe lầm bằng hỏi lại ăn hết kêu nữa sao? Những người trong quán ồ lên kinh ngạc chàng thanh niên kia là hoàng tử chắc, ai nấy đều trằm trồ, có người nói với bộ dạng kia không phải là hoàng tử, hay trưởng giả giàu có gì đâu, mà là một tên người rừng không biết trời cao đất rộng là gì mới dám kêu những món ăn đắt nhất thế giới hãy chờ xem bà chủ quán cột trói tên nầy, chuyện vui sắp xảy ra, nghèo đến nỗi không có vải mặt, mặt da trăn mà thôi.
Có người nói không phải bộ đồ da trăn kia tầm thường đâu nội nhìn thấy ánh sáng lấp lánh ít lắm cũng vài chục lượng vàng đấy, bà chủ quán cũng đánh giá được bộ đồ da trăn kia mới dọn cho khách những món ăn thượng đẳng đắt nhất thế giới.
Người ta nhìn thấy Ta Di cùng Ca Ra ăn hết sạch Ca Ra có lẽ đã no còn Ta Di thời ăn chưa đã bằng kêu thêm mấy món nữa cũng toàn là đắt tiền. Trong quán có một vị công tử nổi tiếng là giàu có nhất tỉnh Ma Ghi lâu lâu ghé qua dùng một món, nay thấy Ta Di kêu một lần năm bảy món, món nào cũng đắt nhất thế giới thời cay con mắt đứng dậy đi đến bàn của Ta Di nói ngươi ở xứ nào mà phách lối như vậy tiêu xài còn hơn cả Ông Hoàng ngươi có điên không? Biết là có chuyện Ca Ra nói huynh trả tiền rồi đi. Ta Di nói ăn chưa đã mà huynh để tôi ăn xong rồi trả tiền cũng chưa muộn. Ta Di không đếm xỉa gì đến tên công tử nhà giàu, tên công tử nhà giàu liền gây chuyện gọi gia nhân đến nói cho tên nầy một bài học vì dám coi thường bổn công tử. Nhìn tên gia nhân ai cũng biết là một người có võ công cao cường, tên gia nhân không nói không rằng đấm vào mặt Ta Di, Ca Ra thấy Ta Di cắm cúi ăn không đỡ cú đấm bằng ra tay đỡ thế nói xin lỗi các hạ chúng tôi là người không có lỗi vô cớ đánh chúng tôi như thế là phạm pháp.
Tên gia nhân không phải tay vừa liền ra đòn nhanh như chớp tấn công vào thượng trung hạ đối phương, tay phải rút đao chém một nhát Ca Ra né tránh thanh đao quá đà chém trúng Ta Di ai nấy cũng kinh hãi tưởng Ta Di toi mạng, nào hay Ta Di vẫn tỉnh bơ lớp áo da trăn không hề hấn gì cả Ta Di phủi vào chỗ mới chém như phủi bụi mới đính, ai nấy đều ồ lên chiếc áo báu vật. Chàng công tử giàu có không dám gây sự nữa trở về chỗ ngồi tìm kế cướp đoạt cho được chiếc áo báu vật kia.
Bỗng tiếng ngựa reo vang một vị quan bước vào quán dán nhiều bản cáo thị, ai nầy đều xúm lại đọc thì ra công chúa La Na nổi tiếng thông minh xinh đẹp như tiên nga giáng trần đã bị đại bàng bắt mất đi rồi. Ai cứu được công chúa. Tuổi lớn thời thưởng mười nghìn lạng vàng. Tuổi dưới ba mươi thời trở thành phò mã. Ca Ra liền gỡ lấy một bản, tên nhà giàu cũng gỡ lấy một bản. Ta Di ăn xong nói với người phục vụ dẫn ta đến gặp bà chủ. Ta Di nói với Ca Ra huynh đã gỡ bản cáo thị thời biết huynh võ học cao cường đường tương lai rộng mở chúng ta chia tay nơi đây hẹn ngày tái ngộ. Ta Di đi theo tên phục vụ đến gặp bà chủ. Bà chủ quán khá xinh đẹp tuổi năm mươi nhìn sơ qua cũng biết bà chủ là người có nội công thâm hậu, xung quanh bà chủ toàn là những cao thủ võ lâm.
Ta Di chấp tay thi lễ nói Tôi đến gặp bà chủ tính tiền, những món ăn đắt nhất thế giới, Tôi cũng đã nghe qua. Bà chủ nói bù qua sớt lại dị chi mười lượng vàng. Ta Di nói tưởng đâu nhiều hơn nữa té ra chỉ bấy nhiêu, bà chủ nghe Ta Di nói thế thời vô cùng kinh ngạc hỏi có đủ vàng để trả sao? Ta Di bằng lấy ra một thỏi vàng hai mươi bốn lượng sáng chóa. Bà chủ kinh ngạc đây là vàng mười vô cùng quý hiếm chỉ có đức vua mới có. Thường thời người ta dùng vàng 9 vàng 8 mà thôi.
Bà chủ nhìn bộ quần áo da trăn sáng bóng nói công tử bán cho tôi bộ áo quần da trăn công tử đang mặc với giá bao nhiêu tôi cũng mua. Ta Di nói chơi nghìn lượng vàng bà chủ cũng mua sao, bà chủ quán làm thinh không trả lời, bằng nói báu vật thời cất dấu đi để cho người ta nhìn thấy thời tai họa không sao tránh khỏi. Bà chủ nói xong thối lại mười bốn lượng vàng số 9 còn đưa thêm 10 lượng bạc vì giá trị vàng mười hơn vàng 9. Ta Di nhận vàng bạc rồi đi ra khi ấy có nhiều cặp mắt dòm ngó, sẵn có vàng có bạc Ta Di mua ngay một con ngựa định trở về quê, nhưng đầu óc thời nghĩ đến bản cáo thị kia.
Ta Di phi ngựa vô định không biết là mình sẽ đi đâu về quê hay tìm đến kinh đô gặp đức vua xin đi cứu công chúa. Ta Di đi ngang qua một cánh rừng thời nhiều tiếng quát nổi lên. Tên nhà giàu dẫn theo nhiều thuộc hạ, người nào người nấy to con khỏe mạnh võ nghệ cao cường. Lại thêm nhiều vó ngựa cũng đến năm người bịt mặt toàn là cao thủ võ lâm. Tên nhà giàu nhìn ra những người mới đến nói thì ra bà chủ cũng tham gia. Nhưng báu vật kia khó mà nhường được. Tên cầm đầu năm người bịt mặt nói ta chỉ cần bộ đồ da trăn kia mà thôi. Vàng bạc thời để cho các ngươi.
Ta Di nghe xong liền nói thiên đàng tốt đẹp các ngươi không muốn lên, địa ngục không lối các ngươi tự tìm xuống. Ta Di nhìn năm người bịt mặt rồi nói. Các ngươi chưa đáng tội chết nên Ta chỉ khuyên các ngươi từ bỏ ý định cướp của giết người, về nói lại với Bà Chủ hãy làm ăn chân chính tích đức về sau.
Tên trùm mặt quát lột bộ đồ nạp cho ta, thời bảo toàn mạng sống. Tên nhà giàu không thể tranh giành bộ đồ da trăn với những tên trùm mặt, bằng nói để túi xách kia lại đây may ra còn sống để ăn cơm. Ta Di nhìn trời than rằng âu cũng là bọn họ tìm đến tai họa nào phải tại con ông trời tha thứ cho con. Tên giàu có như muốn phỏng tay trên bằng ra lệnh cho thuộc hạ tấn công Ta Di bằng những đường đao loang loáng thật kinh người Ta Di lách mình tránh thoát những đường đao lợi hại, năm tên bịt mặt sợ tay giàu có phỏng tay trên bằng múa kiếm xông vào chém Ta Di tới tấp. Ta Di né tránh tài tình hơn mười người ra tay mà không đụng được chéo áo, nói gì đáng trúng Ta Di.
Ta Di thấy bọn nầy càng ra tay càng hiểm độc quát lên một tiếng nằm hết xuống cho ta, tức thời mười luồn chỉ phong bay ra điểm huyệt tất cả bọn chúng. Đến lúc nầy những người định giết người cướp của mới biết là đã gặp cao nhân, nhưng tất cả đều đã muộn võ công nội công của họ đã bị phá hủy không còn sức lực yếu hơn cả người thường. Tên giàu có quỳ lạy xin tha mạng, Ta Di lạnh lùng búng ra một luồng chỉ phong phá hủy hết võ công nội công trở thành người tàn phế.
Ta Di phi ngựa đi ngâm lên mấy dòng thơ rằng
Thiên đàng có lối không đi
Địa ngục không lối thi nhau chen vào
Ở đời cuộc sống ở đời
Gieo ác gặt họa xưa thời như nay
Còn mạng đã là cái may
Nếu không thức tỉnh họa xây trùng trùng
Trên đầu luôn có Ông Trời
Thiện ác họa phúc hai đường khác nhau
Bọn giết người cướp của tất cả đều trở thành tàn phế suốt đời không còn tu luyện được võ công nhìn theo Ta Di mà khiếp hồn khiếp vía.
Ta Di nghe người ta đồn làng nghề Tân Tạo nhiều tay nghề may vá khéo léo Ta Di tìm đến nhờ một tay nghề thông thạo tên là Ri Ni tay nghề giỏi nhất ở làng nghề Tân Tạo. Ta Di gặp bà Ri Ni nói bà bán cho tôi một bộ đồ thay cho bộ áo nầy. Bộ áo da trăn nầy sửa chữa khâu may lại, Ri Ni nói tôi nhìn thấy thời đã phát sợ rồi, cũng may nhà tôi có loại chỉ ngoại nhập bền chắc lắm ít ai dùng tới vì quá đắc một lạng chỉ một lạng vàng. Ta Di nghe nói mừng lắm liền ở tạm nơi đây vài ngày khi nào khâu may xong bộ quần áo thời đi.
Chủ nhà Ri Ni thấy bộ áo da trăn mềm mại như vải lụa thật kinh ngạc vừa kỳ lạ lần đầu tiên bà mới thấy trong đời, bà dùng dao rạch không được, dùng kéo cắt không dứt, da rất mỏng nhưng kim đâm không thủng đành bó tay, nói với Ta Di tôi không thể khâu may được cho công tử Ta Di hỏi lý do Bà Chủ nói rạch không được cắt không đứt kim đâm không thủng Ta Di như chợt hiểu ra liền nói tôi có thể giúp bà làm chuyện đó. Bà Ri Ni liền lấy số đo thật chính xác gạch vào tấm da trăn, Ta Di dùng thanh kiếm nhỏ cắt theo làn gạch rồi dùng kim đâm thủng từng lỗ nhỏ theo lời chỉ bảo của Ri Ni nhưng kim nào cũng bị gãy cuối cùng Bà Ri Ni đem bộ kim gia truyền đưa cho Ta Di. Ta Di vận vô cực thần công mới đâm thủng. Nhìn bàn tay khéo léo Bà Ri Ni nói công tử cũng là tay nghề may vá Ta Di gật đầu.
Ở lại được ba hôm thời khâu may xong bộ quần áo da trăn trông thật là xinh đẹp. Ta Di bận vào làm tăng thêm vẻ khôi ngô tuấn tú. Ta Di vô cùng mừng rỡ nói công, chỉ, bao nhiêu Bà Ri Ni nói công tử đưa cho tôi mười lượng bạc, một lượng vàng là đủ tổng số chi phí cả bộ quần áo, tiền công may, tiền ăn ở ba ngày. Ta Di lấy ra năm lượng vàng, đưa cho bà Ri Ni nói đây là phần trả công cũng như phần thưởng, bà Ri Ni vô cùng kinh ngạc lẫn vui mừng.
Ta Di ra khỏi làng nghề chưa biết phải đi đâu, không quên mặc thêm bộ quần áo mới mua che khuất bộ áo da trăn tới một ngã ba thời nghe thấy tiếng vó ngựa dồn dập thì ra là một tóp quân binh, đi trước tốp quân binh là ba chàng kị sĩ nai nịt gọn gàng vai mang trường kiến oai phong lẫm liệt hình như họ từ kinh thành đến đây thời phải. Ta Di nhìn ra trong số ba người ấy có Ca Ra. Ca Ra khá khôi ngô tuấn tú nhưng đôi mắt vô cùng xảo quyệt vừa nhìn thấy Ta Di, Ca Ra liền dừng ngựa cười nói té ra là huynh nếu chưa có chuyện gì làm thời tháp tùng cùng ba chúng tôi một chuyến. Hai người kia nhìn Ta Di không khác gì nho sinh thời xem thường. Ta Di nói Ca Ra huynh từ kinh thành đến có phải không? Nhìn Huynh được trang bị giáp mão cũng như quân binh đi giúp sức thời biết vua tin cậy Huynh đến mức độ nào. Ca Ra nhìn hai người đi cùng mình nói, hai huynh đây không kém gì tôi đâu võ nghệ cao cường xưa nay chưa gặp đối thủ. Ca Ra chỉ người áo trắng nói huynh đây là một hiệp sĩ lừng danh tên là Nhĩ Hòa, còn đây Ca Ra chỉ người áo xanh đây là Đê Lê với biệt danh là bất bại. Ta Di cúi đầu chào hai người xin hân hạnh được làm quen. Ta Di nói Tôi không có diễm phúc như ba huynh. Nhưng tôi cũng muốn xem đại bàng yêu tinh ra sao mà lợi hại như vậy.
Ca Ra nhìn kỹ thấy bộ quần áo da trăn ẩn sau lớp áo vải tơ tằm đắt tiền liền nghĩ ngay đến Ta Di không phải là hạng tầm thường đủ sức trả tiền những món ăn ngon, nên không bị bà chủ quán lấy đi, Ca Ra như có vẻ thèm thuồng bộ quần áo da trăn hiếm quý có một không hai trên đời.
Ta Di tháp tùng cùng ba người trên dọc đường Ca Ra kể về công chúa. Ca Ra nói công chúa La Na xinh đẹp vô cùng phải nói đẹp như thiên tiên giáng trần. Đức Vua coi công chúa hơn cả giang san của mình. Nghe đâu công chúa La Na cùng các tỳ nữ đang dạo vườn hoa thình lình một con đại bàng xuất hiện bay xuống bắt công chúa đi mất. Khối người đi tìm công chúa, nhưng không mấy ai trở về đều đã bị đại bàng giết chết ăn thịt. Có lẽ những người ấy chưa đủ tài để giết chết con đại bàng ấy, nên đã bị bỏ mạng nơi sơn lâm cùng cốc.
Nói về bốn người Ta Di, Ca Ra, Đê Lê, Nhĩ Hòa ngày đi đêm nghỉ băng rừng lội suối bất chợt nhìn thấy một tốp thợ săn, Nhĩ Hòa phóng ngựa tới hỏi các bác các chú có biết nơi nào có yêu tinh không? Một người thợ săn nói cách đây 50 dặm có một ngọn núi to lớn yêu tinh thường xuất hiện không ai dám tới đó, gần đây có rất nhiều anh hùng hảo hán tìm đến đó nói là cứu công chúa có đi mà không thấy về, hơn cả tháng nay không thấy ai nữa.
Người thợ săn nói tiếp bốn chàng trai trẻ nên trở về đi trên đời có mấy ai tiêu diệt được yêu tinh quỷ dữ, bốn người mừng quá nói cảm ơn bác thợ săn đã chỉ cho nói xong bốn người phi ngựa nước đại lao đi quân binh phi ngựa theo sau, bác thợ săn nhìn theo lắc đầu miệng lẩm bẩm thật tội nghiệp cho bốn chàng trai trẻ cũng như tóp quân binh kia nạp mạng cho yêu tinh.
Bốn chàng trai phi ngựa nước đại, quân binh phi ngựa theo sau đi không bao lâu thời tới một ngọn núi to lớn, đồi rừng cây cối rậm rạp yếu bóng vía thời đã thấy sợ rồi nói gì yêu tinh quanh quẩn nơi đây bốn chàng trai để ngựa lại dặn dò quân binh coi chừng, rồi dùng thuật kinh công vượt qua ghềnh thác sườn dốc cheo leo, hố sâu thăm thẳm cuối cùng rồi cũng nhìn thấy cửa hang động cách đó không xa, bốn chàng trai vô cùng hồi hộp, thật kinh người nơi đây những bộ xương trắng hếu những chiếc sọ rải rác khắp nơi, trời đang nắng nóng nhưng thấy lạnh cả người, lúc ấy trời cũng đã xế chiều.
Bốn người nhìn nhau chưa ai dám đến gần hang động. Ta Di là người không biết sợ là gì tánh khí tò mò nói chúng ta đến cửa hang vào trong động đi Ta Di nói đi nói lại nhiều lần nhưng không thấy ba người kia nói gì bằng nói thôi để tôi vào đó xem sao. Ba người không ai còn dám xem thường Ta Di vì thấy Ta Di kinh công vượt trội hơn họ Ta Di đi đến hang động nhìn xuống sâu như cái giếng bảy tám mét có một đường hầm ăn thông sâu vào núi. Ba người còn lại cách đó không xa thấy Ta Di nhảy xuống hang động không ai nói ai nhanh chân đến cửa hang.
Nói về Ta Di nhảy xuống đáy cửa hang, đi sâu vào hang động đi một đoạn thấy có một giang phòng rộng lớn có một con đại bàng đang ngủ bên cạnh giang phòng đại bàng có một giang phòng nữa Ta Di nghi là công chúa đang bị nhốt trong đó bằng vận thần công tối đa với bộ pháp ảo ảnh vô cực ảo ma Ta Di lướt qua đại bàng, lao nhanh vào giang phòng thấy một người sắc nước hương trời xinh đẹp tuyệt trần không bút mực nào diễn tả cho hết, Ta Di biết ngay là công chúa đang ngồi co ro rầu rĩ. Công chúa La Na đang rầu rỉ thời thấy một bóng người xuất hiện công chúa mừng quá định la lên cứu tôi với. Ta Di nhanh tay bụm miệng công chúa lại ra hiệu biểu im. Công chúa nhìn kỹ người trước mặt là một chàng trai khôi ngô tuấn tú công chúa nhìn mãi Ta Di mà quên đi mình bị nhốt nơi đây. Công chúa liền mở dây chuyền mặt quả tim đang đeo nơi cổ trao cho Ta Di nói đây là quả tim của thiếp đã trao cho chàng.
Ta Di nhận dây chuyền đeo ngay vào cổ công chúa mừng rỡ reo lên chàng tốt bụng quá. Tiếng reo lên của công chúa đã đánh thức đại bàng yêu tinh dậy. Ta Di thất kinh vội bồng công chúa lao nhanh ra khỏi phòng, tức thời một tiếng quát như sấm nổ để công chúa lại đó chạy đâu cho thoát, một luồn kình phong ập đến Ta Di vận vô cực thần công chống trả ầm ầm đùng đùng tưởng chừng như muốn sập cái động. Sợ công chúa ngấp xỉu Ta Di lao nhanh ra cửa động liền thấy ba người đã lao vô.
Nói về ba chàng trai ở trên cửa động nhìn xuống Ca Ra. Nhĩ Hòa, Đê Lê nghe tiếng ầm ầm đùng đùng thời biết là Ta Di cùng đại bàng đang đánh nhau, ba người nhảy xuống hang động lao nhanh vào trong động Ta Di nhìn thấy liền trao công chúa cho ba người nói mau đưa công chúa ra khỏi động. Còn tôi thời chận đại bàng yêu tinh lại.
Ca Ra nhanh chóng nhận lấy công chúa phi thân ra khỏi hang động Nhĩ Hòa, Đê Lê phi thân theo ra khỏi hang động bỏ lại một mình Ta Di chiến đấu với đại bàng, không người nào tiếp sức Ta Di, công chúa thấy thế ức quá thét lên một tiếng rồi câm luôn.
Nói về ba chàng trai đưa công chúa ra khỏi động để công chúa xuống sáu cặp mắt sững sờ trước nhan sắc thiên kiều bá mị sắc nước hương trời chim sa cá lặn, thời chết mê chết miệt thi nhau mà ngắm mà nhìn. Công Chúa tuy không nói được nhưng cặp mắt phụng chăm chăm nhìn hang động từ trong hang động tiếng ầm ầm vang dội hào quang chơm chớp công chúa kéo tay hết người nầy đến người kia chỉ vào hang động ấm a ấm úm nói không ra tiếng ánh mắt công chúa như nói lên rằng các ngươi mau vào trong ấy cứu chàng. Công chúa thấy ba chàng trai không người nào muốn cứu chàng trai mà nàng yêu mến.
Ca Ra nói chúng ta hãy diệt con đại bàng yêu tinh nầy đi, hai người kia hỏi diệt bằng cách nào, Ca Ra cười âm hiểm nói lấp cửa hang lại là đại bàng chết luôn trong đó công chúa nghe nói thế liền thét lên một tiếng rồi ngất lịm luôn.
Ba chàng trai nội lực rất cao hè nhau khuân vác những tảng đá lớn lấp đất đầy miệng hang sâu hơn cái giếng con kiến không thể chui qua được. Khi gần lấp xong miệng hang ánh kiếm chớp lên Nhĩ Hòa, Đê Lê trúng mỗi người mỗi kiếm Nhĩ Hòa, Đê Lê thét lên kinh hãi chỉ tay nói ngươi ngươi Ca Ra nổi lên tiếng cười ghê rợn ánh kiếm lại chớp lên hai tiếng rú thảm thiết sau đó thời im bặt hồn lìa khỏi xác về bên kia thế giới.
Còn lại một mình Ca Ra nhìn công chúa tỏ vẻ thèm thuồng. Ca Ra nghĩ công chúa trước sau gì cũng thuộc về ta cần chi vội. Ca Ra là một tay cáo già chờ cho trong động im tiếng ầm ầm rung rinh mặt đất hoặc Ta Đi chết hoặc đại bàng chết hoặc cả hai lưỡng bại câu thương rồi cả hai cùng chết vì không cách nào ra khỏi hang động được.
Từ hoàng hôn Ca Ra chờ cho tới hơn nửa đêm tiếng giao tranh không còn để cho chắc ăn Ca Ra chờ cho tới sáng nơi cửa hang động không nghe tiếng động gì nữa Ca Ra nghĩ là đã chết hết rồi bằng bồng công chúa còn hôn mê bất tỉnh phi thân xuống núi nơi chỗ để ngựa. Ra lệnh cho quân binh đưa công chúa về kinh thành, vì đã chuẩn bị sẵn nên quân binh đưa công chúa xuống núi không lấy gì làm khó, những quân binh được đức Vua sai đi toàn là những tay cao thủ võ công cao cường. Khi đưa công chúa xuống tới đồng bằng thời công chúa cũng đã tỉnh lại Ca Ra vô cùng mừng rỡ nói công chúa đã tỉnh hãy mua ngay một chiếc xe kiệu lộng lẫy đưa công chúa về kinh đô.
Ca Ra cho một quân binh phi ngựa về kinh đô báo tin cho đức Vua cùng hoàng hậu.
* * *
Hết Phần 1 xem tiếp phần 2 Công Chúa La Na
PHẦN 2
CÔNG CHÚA LA NA
Nói về Ta Di cùng đại bàng yêu tinh đánh nhau bất phân thắng bại. Ta Di cũng đã nhìn ra đại bàng yêu tinh nầy cách đây mười năm đã từng đánh với Xà Quỷ võ nghệ đại bàng vô cùng cao cường đôi cánh quạt ra những luồng kình phong khiếp đảm, đôi chân vô cùng lợi hại những móng vuốt chụp tới nhanh như tia chớp thủng cả đá thật là ghê rợn. Với sức mạnh ngàn năm nhờ nuốt được Âm Dương Thần đơn vô cực thần công trở nên vô cùng lợi hại chưởng chỉ Ta Di đánh ra tới tấp ầm ầm đùng đùng không ngớt, Đại bàng hóa ra lửa thiêu sống Ta Di, nhờ lớp vô cực thần công bao bọc nên lửa yêu tinh không làm gì được, bất ngờ một tia sáng chớp lên thanh kiến nhỏ lao đến trúng ngay vào ức đại bàng. Ta Di liền niệm chú hô biến tức thời thanh kiếm vụt lớn lên tạo ra tiếng sấm nổ đại bàng bị nổ tung banh xác.
Diệt xong đại bàng yêu tinh Ta Di vội đi tìm công chúa phi thân ra cửa động thời hỡi ơi cửa hang đã bị lấp kín. Ta Di chưa biết phải làm sao thời nghe tiếng nói vọng đến xin công tử hãy cứu chúng tôi. Ta Di lấy làm kinh ngạc ai thế Ta Di trở vào hang động nơi giao tranh với đại bàng yêu tinh thời phát hiện ra một đường hầm Ta Di đi vào đấy thời thấy ba người trần truồng chỉ mặc khố, bị cột trói nhốt trong một lồng sắt tuổi trạc độ ba mươi. Ta Di hỏi các người là ai? Những người trong lồng sắt nói ba chúng tôi là ba dũng sĩ trong lúc đấu võ bị đại bàng bắt về đây nhốt trong lồng sắt nầy. Những dây xiềng xích nầy vô cùng kỳ lạ chúng tôi bứt không đứt, những thanh sắt kia cũng vô cùng kỳ lạ không bẻ cong được chúng, chúng tôi bị nhốt ở đây hơn một năm, ba người tự giới thiệu người to con nhất nói tôi tên là Phê Lê, kế đến người có cánh tay dài nói tôi tên là Viên Kỳ, người nhỏ con hơn hết nói tôi tên là Đại Lợi.
Ta Di nhìn ba người thấy người nào nội công cũng thâm hậu đôi mắt sáng ngời thời biết ba người nầy là những nhân tài trên đời Ta Di lấy thanh kiếm nhỏ ra niệm chú hô lớn tức thời thanh kiếm lớn lên như thanh kiếm thường dùng hào quang tỏa sáng, Ta Di vung thanh kiếm thần lên chém vào lồng sắt tức thời lồng sắt đứt tiện, Ta Di liền chém vào dây xiềng xích ba người liền được cứu thoát cùng nhau quỳ lạy Ta Di. Cả ba cùng nói mạng chúng tôi được công tử cứu sống, chúng tôi nguyện theo công tử làm người hầu.
Ta Di nói không được đâu Ba người đồng thanh nói nếu công tử không chịu nhận chúng tôi làm người hầu thời chúng tôi nguyện chết ở đây, cực chẳng đã Ta Di mới nhận ba người, ba người lạy tạ rồi đứng dậy. Ta Di nói cửa hang đã bị lấp kín không thể nào ra được ba người nói trong phòng nầy hình như có lỗ thông ra ngoài thỉnh thoảng nghe có luồng gió lạ, thế là ba người tìm kỷ thời thấy có một lỗ nhỏ gió từ lỗ nầy thổi vào có lẽ là lỗ thông hơi của hang động nhưng lỗ nhỏ quá con chuột thời chui qua lọt còn con người thời chịu thua.
Ta Di nói các ngươi đứng sát vách bên kia vận công chịu đựng để ta đánh vài chưởng xem thử. Nói xong Ta Di liền vận vô cực thần công hết bình sanh tay trái thần chỉ tay phải thần chưởng đánh vào lỗ thông hơi, tức thời cuồng phong nổi lên kinh khiếp tiếng ầm ầm long trời lở đất tức thời vách đá bị chưởng phong đánh sụp đổ hiện ra một đường hầm, ba người Pha Lê, Viên Kỳ, Đại Lợi vô cùng kinh hãi nhưng sau đó mừng rỡ reo lên chúng ta thoát rồi.
Bốn người cùng nhau đi vô đường hầm, đi một đỗi xa thấy xương người rải rác khắp nơi có lẽ đường hầm nầy là nơi đại bàng bắt người về ăn thịt, đi được một khúc hầm nữa thời nghe tiếng gió rì rào thổi vào hang động mát lạnh cả người vừa ra tới miệng hang động thời ánh trăng chiếu vào thì ra đây cũng là ngách hang động thứ hai. Vì trời còn tối bốn người liền ngủ một giấc cho đến sáng, khi thức dậy đứng trên nhìn xuống là một thung lũng vách đá cheo leo dựng đứng, bên kia là sườn núi sương mù bao phủ, lúc bây giờ trên bầu trời trong veo những đám mây lơ lửng không biết trôi về đâu, cơn gió núi mát lạnh Ta Di nói chúng ta tìm đường xuống núi.
Đây nói về Ca Ra cùng quân binh hộ tống công chúa trở về kinh thành, vừa tới kinh thành trước sự reo hò của dân chúng nhất là Đức Vua cùng Hoàng Hậu, quan triều thần ra khỏi kinh thành đón công chúa.
Đức Vua nắm lấy tay con gái nói Ca Ra quả là một chàng trai kỳ tài Cha sẽ cho cử hành hôn lễ sớm công chúa nhìn Cha Mẹ rơi nước mắt ấm a ấm ớ nói không ra lời Hoàng Hậu Mẹ của công chúa kinh hãi nói công chúa đã bị câm. Ca Ra nói không sao đâu sẽ được chữa khỏi Đức Vua tin tưởng ở Ca Ra.
Nói về công chúa trở về cung suốt ngày ru rú trong phòng không muốn ăn uống gì cả bao nhiêu thầy thuốc tài giỏi được mời đến chữa trị cho công chúa nhưng không chữa trị được bệnh câm. Hoàng Hậu vô cùng lo lắng hỏi gì công chúa cứ lắc đầu. Nhất là công chúa không muốn gặp mặt Ca Ra. Hoàng Hậu cùng Đức Vua lấy làm lạ người cứu mình mà không muốn gặp mặt, vì mỗi lần Ca Ra muốn gặp thời công chúa từ chối không cho gặp.
Ca Ra là tay thâm hiểm mưu mẹo nghĩ công chúa câm cũng tốt gạo đã nấu thành cơm thời mọi việc đều xong tất. Bằng tâu với Đức Vua rằng bệnh câm công chúa khó mà chữa khỏi vì công chúa bị con đại bàn yêu tinh làm cho sợ hãi quá hóa thành câm khi nào hết sợ công chúa sẽ nói được. Ca Ra quỳ lạy nói xin Đức Vua giữ lời hứa tác hợp cho hai chúng con.
Đức Vua ngẫm nghĩ công chúa biết chừng nào cho hết câm thôi thì theo đúng lời hứa như trong bản cáo thị Đức Vua nói ba ngày nữa ta sẽ gã công chúa cho con. Tức thời ra lệnh cho các quan triều thần thông báo cả nước cũng như chửng bị cho cuộc hôn nhân nầy.
Công chúa nghe vua Cha ra cáo thị như thế ngất xỉu lên ngất xỉu xuống các hầu nữ lo lắng vô cùng, bỗng một hầu nữ chạy vào đưa sợi dây chuyền mặt quả tim cho công chúa. Công chúa vừa nhìn thấy thời ré lên khóc òa ôm lấy sợi dây chuyền vào lòng ngực nói mau hãy dẫn người nầy vào gặp ta. Công chúa la lên mau đi mau đi, chậm trễ thời chàng sẽ đi mất. Con hầu nữ ba chân bốn cẳng hối thúc tên vệ quan mau dẫn ta đến gặp người nầy, tên vệ quan không biết chuyện gì phi ngựa nước đại đến nơi tiểu quán tìm gặp người đưa cho mình sợi dây chuyền.
Nói về Ta Di cùng ba người tìm đường xuống núi Ta Di hú lên một tiếng sảng khoái cùng ba người vượt khỏi thung lũng vượt suối băng rừng xuống đồng bằng. Xa xa là một thị trấn Ta Di nói ba ngươi ở lại đây Ta đi mua ba bộ đồ cho các ngươi để bận không ai dòm ngó, ba người vân dạ Ta Di liền phi thân chớp mắt đã mất dạng không bao lâu Ta Đi trở lại với ba bộ đồ khá đắt tiền với thông thạo nghề may vá Ta Di mua ba bộ đồ vừa vặn cho ba mẫu người một cách tài tình. Ba người vừa mặc áo xong như ba người khác đúng là người sang đẹp vì lụa trở thành ba vị trung niên khá sang trọng. Pha Lê, Viên Kỳ, Đại Lợi ca ngợi không hết lời Vào thị trấn Ta Di mua bốn con ngựa, khi sờ đụng dây chuyền Ta Di liền nhớ đến công chúa, bằng nói ba người ta đến kinh thành thôi.
Vừa đến kinh thành Ta Di tìm đến một quán trọ khách sạn Ni Na bình dân thuê hai căn phòng sát bên, rồi cùng ba người ra phòng khách kêu những món ăn ngon vì mấy ngày qua ăn sơ sài để sống.
Nơi quán trọ bình dân Ni Na lúc nào cũng đông khách, câu chuyện được bàn tán xôn xao là còn ba ngày nữa công chúa La Na kết duyên cùng Ca Ra. Ta Di nghe choáng váng cả mặt mày, thầm nghĩ cũng phải thôi, với thân phận nghèo chẳng có tiếng tăm gì cũng như địa vị xã hội. Thôi tạm ở lại nơi đây chờ công chúa kết hôn xong sẽ lên đường tìm đến một nơi rất xa để ở. Ta Di muốn trả lại dây chuyền cho công chúa nhưng làm cách nào trả lại được, như chợt nghĩ ra phải rồi ta đến gần cửa thành tìm quán ăn gần đó thế nào cũng gặp người trong cung. Trước khi đi Ta Di đưa túi xách đựng vàng, bạc ngọc ngà châu báu cho ba người dặn trông coi cẩn thận. Ta có chút việc cần làm Ta Di đến một đại quán ở gần cửa thành vào ấy thuê phòng ở chờ đợi hai ngày may sao thấy một người vệ quan vào quán Ta Di không bỏ lỡ cơ hội thân thiện làm quen kêu thêm mấy món ăn ngon thiết đãi. Vị vệ quan nhìn thấy Ta Di khôi ngô tuấn tú ăn nói lịch sự liền cảm mến ngay không dấu diếm điều gì ta là vệ quan ở gần cung công chúa, Ta Di nghe nói mừng rỡ liền cỡi dây chuyền trên cổ ra nói vật nầy tôi tặng công chúa trước khi lấy chồng, tên vệ quan kinh ngạc nói thì ra công tử quen biết công chúa, thần thật thất lễ.
Tên vệ quan nhận sợi dây chuyền đi vào ngọ môn Ta Di thấy lòng đau như cắt thôi rồi không bao giờ gặp lại công chúa nữa. Ta Di thẫn thờ quên cả thời gian ngồi một mình vừa buồn vừa tủi. Không lẽ ngồi hoài ở đây vừa bước ra khỏi quán định về nơi quán trọ khách sạn Ni Na chờ công chúa thành thân xong là lên đường. Thời thấy tên vệ quan phi ngựa trở lại mang theo một hầu nữ vừa nhìn thấy Ta Di tên vệ quan chỉ tay nói người ấy kia kìa Hầu nữ vừa xuống ngựa liền chạy tới nắm lấy tay Ta Di nói đi theo hầu nữ đến gặp một người Ta Di nói đến gặp ai? Hầu nữ tươi cười nói gặp ai nữa công tử biết rồi còn hỏi Ta Di ngơ ngác chẳng hiểu gì cả đi theo hầu nữ đi vào cung thành không bao lâu thời đến cung điện cảnh quang nơi đây đẹp vô cùng Từ nơi cung điện công chúa La Na ăn mặc rực rỡ chạy ùa ra nói chàng đã đến chàng đã đến công chúa ôm Ta Di chặt cứng như sợ Ta Di biến mất. Khi ấy mẹ công chúa hoàng hậu Pha Ra cũng đến chứng kiến cảnh công chúa ôm một chàng trai hoàng hậu Pha Ra ngớ cả người, chuyện gì nữa đây.
Công chúa nhìn thấy mẹ liền chạy tới nắm lấy tay mẹ nói người nầy mới thật sự là người cứu con giết chết đại bàng yêu tinh. Hoàng Hậu kinh ngạc con nói thật sao. Công chúa liền kẻ sơ qua câu chuyện Hoàng Hậu hình như cũng đã rõ Ta Di bước đến trước mặt Hoàng Hậu lễ lạy thưa rằng con là Ta Đi xin ra mắt Hoàng Hậu Gia Gia. Hoàng Hậu Pha Ra phất tay biểu đứng dậy Hoàng Hậu nhìn kỷ Ta Di thấy Ta Di khôi ngô tuấn tú mặt mày sáng láng khí chất phi phàm quả là trang hảo hán trên đời khó kiếm hơn hẳn Ca Ra xa. Hoàng Hậu nói hai đứa theo ta đến gặp phụ vương.
Nói về Vua Pha Ra nghe công chúa nói được rồi lấy làm mừng, chửng bị thân hành đến cung công chúa thời thấy hoàng hậu cùng công chúa đến dẫn theo một chàng trai khôi ngô tuấn tú. Vừa gặp Cha công chúa liền quỳ lạy nói hài nhi làm phụ vương lo lắng mãi. Vua Pha Ra tươi cười nói Cha mừng quá con đã nói được rồi, công chúa liền nói với Phụ Vương. Thưa Cha người nầy mới thật là người giết chết đại bàng cứu con, người kia chỉ là tiếp ứng cứu con mà thôi. Công chúa kể lại hết đầu đuôi không bỏ sót một chi tiết nào. Đức Vua nghe xong trầm ngâm suy nghĩ việc nầy giải quyết sao đây. Mình đã hứa với Ca Ra là gả công chúa cho Ca Ra trước triều thần bá quan văn võ, chỉ còn ngày mai là đi vào thành hôn. Đức Vua Pha Ra nhìn Ta Di thấy Ta Di hơn hẳn Ca Ra thời mừng lắm nhưng giải quyết sao đây. Công chúa thấy Cha làm thinh nói thêm rằng con chỉ ưng người cứu con thôi. Đức Vua là người thông minh gần một tháng trôi qua công chúa không muốn gặp mặt Ca Ra là câu chuyện ẩn khúc nầy đây.
Để thăm dò ý kiến các quan triều thần nhà vua nhìn Ta Di rồi nói rằng chàng trai trẻ hãy ở lại trong cung ngày mai trước triều sẽ có câu trả lời ai là người sẽ trở thành phò mã. Công chúa vô cùng mừng rỡ cầm sợi dây chuyền trao cho Ta Di nói chàng không nên trả sợi dây chuyền mặt quả tim lại cho thiếp vì nó thuộc về sở hữu của chàng, Ta Di nhận lại sợi dây chuyền nói rằng nguyện nghe theo lời công chúa gìn giữ trọn đời công chúa lấy làm mừng có thế chứ, công chúa sai hầu nữ dọn phòng cho Ta Di ở.
Ta Di một đêm không chợp mắt vì gặp lại được công chúa nhất là tấm lòng kiên trung của công chúa đây mới chính là báu vật vô giá chốn nhân gian, không gì hơn lòng chung thủy cũng như sự kiên trung của công chúa. Dù đổi cả giang san Ta Di cũng không đổi. Công Chúa gặp được Ta Di không muốn xa rời hai người hàn huyên tâm sự, Ta Di kể lại cuộc đời của mình cho công chúa nghe công chúa càng nghe càng kinh ngạc xen vào nói thì ra chàng là em bé ở Làng Phù Sa đã nổi tiếng cách đây hơn mười năm hiện Làng Phù Sa lập miếu thờ em bé ấy, đến nỗi Vua Cha cùng Hoàng Hậu mỗi khi nghe kể về em bé Làng Phù Sa cũng không cầm được nước mắt nói trên đời sao có người anh hùng nhân đức đến như vậy cả hai hàn huyên tâm sự cho đến sáng.
Đêm đã tàn nhường cho một ngày mới ra đời ánh bình minh rực hồng khắp cả non sông,
Mặt trời đã lên cao nơi triều thần bá quan văn võ có mặt đầy đủ, cũng là ngày vô cùng quan trọng công chúa nên duyên với Ca Ra.
Ca Ra hôm nay ăn mặc thật sang trọng xứng tầm là một phò mã Ca Ra lạy Đức Vua cùng Hoàng Hậu xong quay sang công chúa Ca Ra nói chúc mừng công chúa đã nói được có lẽ yêu thuật của đại bàng yêu tinh đã được hóa giải. Công chúa bỉm môi rồi nói thưa Phụ Vương cho phép con nói vài lời với Ca Ra. Đức Vua nói con cứ tự do muốn nói những gì con muốn nói.
Công chúa nói Ca Ra ngươi lấy cái gì chứng minh là đã cứu ta thoát khỏi nanh vuốt đại bàng, cũng như lấy tư cách gì làm chồng của Ta. Ca Ra nói thứ nhất là có quân binh làm chứng Ca Ra tôi đã cứu Công Chúa, thứ hai đã đưa công chúa về đến kinh thành, thứ ba là Ca Ra tôi làm đúng những gì cáo thị do Đức Vua truyền ra, bằng chứng là Đức Vua đã ban ra chiếu chỉ kết hôn giữa tôi và công chúa.
Đức Vua Pha Ra, cùng triều thần không thể chối cãi hay biện bác gì được đành im lặng. Công chúa nói Ta chứng kiến ngươi lấp miệng hang giết chết Ta Di, cùng hai người bạn cùng đồng hành với ngươi, ngươi quả là người nham hiểm độc ác. Ca Ra nghe xong bình tỉnh trả lời rằng, nếu không lấp miệng hang thời làm sao mà giết được đại bàng, bằng chứng hơn cả tháng nay đại bàng không hề xuất hiện. Còn nói tôi ác độc giết chết hai người cùng đi là sai. Thử hỏi có một mình công chúa làm sao gả hết cho ba người, vì ba người đều có công cứu công chúa, đã là cạnh tranh thời phải có người thất bại người thắng cuộc sau cùng mới là người tài giỏi sao công chúa lại nói Ca Ra tôi ác độc. Đức Vua Pha Ra phải thầm ngợi khen chàng trai văn võ song toàn đầy thủ đoạn nham hiểm nầy.
Công chúa nói ngươi nói ngươi cứu được ta thoát khỏi đại bàng thời đưa ra vật chứng. Ca Ra nói làm gì có vật chứng mà đưa ra, chỉ có nhân chứng mà thôi. Công chúa liền nói người có vật chứng ta trao không phải là ngươi mà là một người khác. Công chúa nói dẫn người đó vào đây Đức Vua cùng Hoàng Hậu thời biết rồi, chỉ có bá quan văn võ triều thần là chưa biết. Còn biết thêm một chuyện khác nữa Ta Di chính là em bé nổi tiếng cả nước ở Làng Phù Sa Đức Vua và Hoàng Hậu mừng lắm tìm cách loại Ca Ra gả công chúa cho Ta Di, còn các quan triều thần thời ngơ ngác không hiểu nếp tẻ gì cả câu chuyện ly kỳ xảy ra.
Các quan triều thần thấy một hầu nữ dẫn một chàng trai khôi ngô tuấn tú bận bộ quần áo da trăn lấp lánh toát lên vẻ kỳ lạ vừa kỳ bí vừa làm cho người ta sợ hãi. Đức Vua và Hoàng Hậu cũng lấy làm kinh ngạc nhìn bộ áo da trăn sáng ngời lấp lánh khác thường những da trăn khác. Ca Ra vừa nhìn thấy thời sắc mặt tái xanh tái ngắt. Những sau đó thời lấy lại bình tĩnh chào nói thì ra là Ta Di Huynh.
Ta Di lạy Đức Vua, Hoàng Hậu xong thời đứng qua một bên. Ca Ra nhìn Ta Di nói Huynh có vật chứng công chúa trao cho đâu lấy ra cho cả Đức Vua, Hoàng Hậu cũng như triều thần coi. Ta Di tánh thông minh trời phú liền nói vật minh chứng không phải là Ca Ra huynh xác nhận được, mà phải là Đức Vua cùng Hoàng Hậu xác nhận vật đó chính là vật của công chúa mới có hiệu lực. Đức Vua Hoàng Hậu nghe lời nói ấy thầm khen trong bụng đúng là thiên tài. Công Chúa nghĩ Chàng không muốn mình đứng ra xác nhận vật ấy là của mình. Người chứng nhận vật ấy phải là người thứ ba, người mà trao kỷ vật ấy cho công chúa. Đúng là trời đã chọn cho mình một phu quân xứng đáng, đối thủ khó mà bắt bẻ cho được.
Triều thần nhìn thấy Ta Di mở sợi dây chuyền đang đeo trên cổ dâng lên cho Đức Vua cùng Hoàng Hậu. Đức Vua xem xong trao cho Hoàng Hậu. Hoàng Hậu cầm sợi dây chuyền mặt quả tim đưa lên nói khi công chúa lên chín tuổi thời chính tay Ta cùng Đức Vua trao cho công chúa dây chuyền nầy. Hoàng Hậu hỏi công chúa chàng trai kia sao lại có sợi dây chuyền của con. Công chúa thưa rằng thưa Cha Mẹ chính tay con đã trao sợi dây chuyền nầy cho Ta Di khi Ta Di cứu con thoát khỏi đại bàng. Ca Ra chỉ là người giáng tiếp không phải là người trực tiếp cứu con. Cả triều thần đều ô lên kinh ngạc, việc nầy giải quyết sao đây.
Một người có công trực tiếp cứu công chúa, một người có công gián tiếp cứu công chúa đưa về đến kinh thành đúng những gì chiếu chỉ Đức Vua truyền phán là người nào cứu công chúa đưa về kinh thành thời gả cho người đó.
Đức Vua chưa biết phải giải quyết ra sao, thời công chúa đứng lên dõng dạc nói, các quan triều thần có biết Ta Di là người thế nào không chính là em bé Ta Di ở làng Phù Sa nổi tiếng khắp cả nước, người Phù Sa nghĩ là Ta Di đã bị xà tinh ăn thịt rồi, nhưng đâu có ngờ Ta Di đã giết chết Xà Tinh cứu thoát những trẻ em không còn sự cống nạp nữa. Các quan triều đình ai cũng biết chuyện nầy liền ca ngợi không hết lời. Ca Ra thấy triều thần sùng kính Ta Di thời hiểu rõ phần bất lợi thuộc về mình. Có một vị quan nói chiếc áo Kỳ Nhân đang mặt kia có phải là da của Xà Tinh không? Công chúa nói thay đúng vậy, đao kiếm thường đâm không thủng, cắt không đứt được đâu. Có một vị võ tướng không tin nói làm gì có chuyện đó, em bé mới có chín tuổi làm gì có chuyện giết được xà tinh, lột da xà tinh may thành áo.
Ca Ra thấy đây là cơ hội giết Ta Di bằng nói Ta Di huynh có dám để cho vị tướng kia thử áo da xà tinh quỷ chém không đứt đâm không thủng không mở rộng tầm mắt các quan triều thần ở đây.
Công chúa nghe Ca Ra nói vậy định chửi cho vài câu ngươi tính định mượn dao giết người hả. Đức Vua Hoàng Hậu cũng hiểu rõ thâm ý của Ca Ra. Công chúa nói thử thời thử nhưng phải cởi ra Ca Ra nói da xà tinh quỷ tu luyện hàng nghìn năm làm gì đao kiếm đâm thủng chém đứt mà phải cởi ra.
Lúc ấy có một vị tể tướng đứng lên thưa với Đức Vua rằng. Thưa Đức Vua nhân tài rất quý, huống chi là người đã cứu công chúa. Câu chuyện đem thân mình thế mạng cho người khác là chuyện khó tin rồi không mấy ai làm nổi, lại mới chín tuổi giết chết Xà Tinh Quỷ lấy da may quần áo là chuyện ngoài sức tượng tượng của con người. Công chúa gả cho ai còn chưa ngã ngũ giờ thêm chuyện nầy nữa chưa biết chuyện gì xảy ra.
Thần đề nghị hiện nay đất nước ta có bọn cướp phải nói là rất mạnh thường hoạt động các tỉnh biên giới, không biết bao nhiêu tướng lĩnh các tỉnh huyện đã bỏ mạng. Chi bằng để Ta Di cùng Ca Ra so tài ai diệt được lũ cướp thời người đó thắng cuộc. Hôn nhân công chúa có thể theo đó mà nên duyên. Còn bộ áo da trăn kia thực hư ra sao thời làm một hình nộm cũng được. Công chúa nhìn Ta Di như hội ý Đức Vua cùng Hoàng Hậu chờ nghe sự trả lời của Ta Di. Ta Di nói dẹp giặc phiến loạn là nhiệm vụ của toàn dân, không riêng gì Ta Di, nhưng nếu được phân công thời Ta Di hết lòng mà dẹp giặc. Còn muốn thử chiếc áo không cần phải làm hình nộm cứ đâm chém thẳng vào người của tôi vàng thiệt không sơ chi lửa.
Ta Di nhìn vị tướng nói không tin thời cứ ra tay, Ca Ra liền thúc vị tướng cả triều thần muốn xem kết quả phá tan đi sự nghi ngờ.
Vị Tướng ấy nổi tiếng là người có sức mạnh phi thường cầm trường thương hơn tạ, công chúa lo lắng nói chuyện nầy có ổn không. Ta Di nói công chúa hãy tin vào tôi.
Vị Tướng có biệt danh là Phá Núi, Phá Núi cầm trường thương chém ngang qua hông nếu đứt áo cũng chỉ bị thương chứ không mất mạng. Thấy chiếc áo không hề hấn gì, bằng đâm một thương nếu có thủng cũng không mất mạng, nào hay đâu chiếc áo da không hề bị thủng vô cùng kinh ngạc, dừng thương nói đúng là chiếc áo bảo vật trên đời. Ca Ra nói võ tướng chỉ làm trò hề chưa thật sự, Vị tướng cả giận nói nếu không tin công tử thử xem. Ca Ra nói Ta Di có dám để ta thử không Ta Di gật đầu Ca Ra bằng rút kiếm ra tiếng kiếm ngân lên làm ai cũng phải giật mình Đức Vua nhìn thấy kinh hãi định ra lệnh dừng, nhưng nào có kịp ánh kiếm chớp lên chém vào người Ta Di. Ta Di hiểu rõ âm mưu Ca Ra muốn giết chết mình liền vận vô cực thần công bảo vệ lớp áo, ánh kiếm nhanh như tia chớp đâm chém liền ba nhác thấy Ta Di vẫn trơ trơ lớp áo da không hề hấn gì cả Đức Vua Hoàng Hậu thở phào nhẹ nhõm Công Chúa mừng quá chạy tới nắm lấy tay Ta Đi nói bộ áo da thần kỳ. Đến lúc nầy cả triều đình không ai là không ngưỡng mộ.
Ca Ra luôn thất bại dù mưu mô xảo quyệt hơn người Ca Ra chỉ còn hi vọng là dẹp được bọn phiến loạn cướp bóc biên cương.
Đức Vua theo sự đề đạt hiến kế của Tể Tướng cấp cho Ta Di, Ca Ra mỗi người năm nghìn quân binh tinh nhuệ thiện chiến đến biên cương tiêu diệt quân phiến loạn ai tiêu diệt được quân phản loạn thời người ấy làm phò mã.
Nói về dân chúng nội ngoại thành nhìn thấy hai cánh quân binh rầm rộ dẹp giặc phản loạn biên cương dân chúng động viên reo hò cổ vũ nhất là trằm trồ hai vị tướng trẻ. Cánh quân của Ta Di vừa đi ra nội thành thời thấy có một vị tướng oai phong lẫm liệt xin cho gặp Ta Di, Ta Di nhận ra người ấy bằng xuống ngựa thi lễ nói tướng quân gặp tôi có chuyện gì. Vị tướng quân thi lễ nói Phá Núi tướng quân tôi nguyện theo giúp sức tướng công Tử trừ phiến loạn biên cương chuộc cái tội thất kính. Ta Di nghe nói mừng lắm liền phong cho Phá Núi thống lãnh quân binh cùng với Phê Lê tướng quân chi huy đội quân cánh tả. Đội quân cánh hữu do Viên Kỳ và Đại Lợi chỉ huy. Cánh quân Ta Di ngày đi đêm nghĩ không bao lâu thời gần tới biên cương chỉ còn 50 dặm nữa là tới. Liền cho quân binh dừng lại dựng lều nghỉ ngơi. Ta Di bàn với bốn tướng chúng ta ở đây tập luyện chiến trận vì đất nước bình yên năm sáu chục năm nay tinh thần chiến đấu cũng như võ nghệ chưa được thao luyện cho mấy Phá Núi càng khâm phục cho tài tính trước liệu sau của Ta Di. Ta di cho người đi thám thính quân phiến loạn, cũng như cho người vào quận huyện mua heo gà vịt trâu bò khao đãi quân binh trong lúc tập luyện, không đá động gì đến tiêu diệt quân phiến loạn.
Nói về Ca Ra dẫn quân binh rầm rộ ra đi hối thúc quân binh cho mau tới biên cương, quân binh vô cùng mỏi mệt, lại thêm không có tướng tài nào theo giúp sức chỉ có những tướng tá thường phục vụ trong quân binh mà thôi. Những vị tướng tài nầy vô cùng kiêu căng ngạo mạn cho sự tài giỏi của mình không coi quân phiến loạn vào đâu.
Thường nói với Ca Ra tướng quân yên tâm mấy thằng ăn cướp mà làm nên trò trống gì. Ca Ra nói nếu không làm nên trò trống gì thời đâu có nhiều tướng tá các tỉnh biên cương phải bỏ mạng. Các tướng lĩnh tỏ vẻ xem thường nói tướng tá địa phương là những tướng tá chăn bò chăn trâu ấy mà.
Cánh quân của Ca Ra chỉ còn cách biên giới vài dặm thời hạ trại cho quân binh dừng nghỉ lấy lại sức sau chuyến đi đường dài hơn nghìn dặm. Ca Ra cho quân binh thăm dò quân phiến loạn cũng như thăm dò cánh quân của Ta Di. Quân dọ thám về báo cánh quân Ta Di đã hạ trại cách đây 20 dặm. Ca Ra nghe báo như thế có lẽ trời đã giúp ta Ta Di chỉ giỏi võ công còn điều binh khiển tướng thời quá kém cỏi, hạ trại cách xa quân phiến loạn như thế làm sao nắm bắt tình hình của địch.
Ca Ra cho quân binh nghĩ được hơn mười ngày thời có người về báo cánh quân của Ta Di chỉ lo ăn uống múa tay múa chân cho giãn xương cốt đóng quân tại chỗ không di chuyển. Ca Ra nói trời đã giúp ta ngày mai ra quân tiêu diệt quân phiến loạn lấy đầu thủ lĩnh coi như ta đã thành công. Ta Di không còn cơ hội để trở thành phò mã.
Nói về Ca Ra điều binh khiển tướng tiến quân tốc hành đánh thẳng vào hang ổ quân phản loạn, thực lực quân phản loạn bao nhiêu thời chưa nắm được ước độ năm sáu nghìn quân.
Nói về quân phiến loạn chửng bị tư thế chiến đấu hơn mấy ngày nay thủ lĩnh quân phiến loạn là Hỗn Ma con Báo Đốm thành tinh. Tả tướng quân Hỗn Ma là Hồ Quỉ con chồn thành tinh, Hữu tướng quân là Ác Sát tướng quân, con báo thành tinh. Không những võ nghệ cao cường mà còn có pháp thuật thần thông.
Hỗn Ma thủ lĩnh dân dẫn theo ba nghìn quân phiến loạn đối đầu với quân Ca Ra.
Ca Ra nhìn thấy quân phiến loạn ít hơn quân mình lấy làm yên tâm. Để làm tăng sĩ khí quân binh Ca Ra sai một vị tướng có tên là Tạ Đôn nổi tiếng có sức mạnh hơn người tay cầm song chùy nặng hơn hai tạ được lệnh dẫn theo 500 quân binh mở màn giao chiến. Hỗn Ma liền sai Hồ Quỉ dẫn 500 lâu la xáp trận, hai bên giao chiến dữ dội Hồ Quỉ đánh không lại Tạ Đôn liền bỏ chạy, Tạ Đôn rượt theo Hồ Quỉ liền chỉ tay vào Tạ Đôn niệm chú tức thời Tạ Đôn ngã nhào xuống ngựa Hồ Quỉ vớt một đao Tạ Đôn hồn du địa phủ. Lâu la quân phiến loạn thắng thế phản công như vũ bão chém xối xả vào quân Ca Ra lớp chết lớp bị thương vô số. Ca Ra kinh hãi liền thúc ngựa lao tới chém bọn lâu la chết như rạ Hồ Quỉ biết đánh không lại liền phất cờ đánh trống rút lui. Ca Ra phi ngựa đuổi theo chém Hồ Quỉ. Hồ Quỉ chỉ tay niệm chú chỉ thẳng vào Ca Ra, Ca Ra đã thủ thế vận thần công chống trả phi ngựa lao tới chém cho Hồ Quỉ một kiếm. Hồ Quỉ kinh hồn bạt vía ẩn mình trốn thoát.
Quân lâu la bị quân Ca Ra chém thôi là chém. Hỗn Ma quát lên một tiếng phi ngựa ra giao chiến với Ca Ra kẻ tám lạng người nửa cân đánh nhau rền trời rền đất, bên quân phiến loạn Ác Sát quát tháo ầm ỉ chém liền hai tướng, quân Ca Ra tuy mất tướng. Nhưng nhờ quân đông, quân phiến loạn lâu la chưa làm gì nổi. Trận thế vẫn nghiêng về quân Ca Ra. Ca Ra tuy võ nghệ cao cường một mình đánh với Hỗn Ma, bất phân thắng bại Hồ Quỉ nhập cuộc hai người đánh một đánh Ca Ra dồn dập. Ca Ra có bề yếu thế, cùng lúc ấy Ác Sát chém liền hai tướng nữa, quân Ca Ra như rắn mất đầu đi vào hỗn loạn. Quân lâu la phấn chí chém thôi là chém quân Ca Ra thây phơi chật đất.
Ca Ra một mình đấu với Hỗn Ma, Hồ Quỉ lâm vào cảnh yếu thế, lại thêm Ác Sát lao vào xáp chiến. Ca Ra một mình đấu với ba yêu tinh không cách gì chống đỡ nổi bị Hỗn Ma chém cho một nhác hồn du địa phủ, năm nghìn quân binh chết hết hai phần còn một phần thời bỏ chạy bị lâu la rượt theo truy sát tản lạc khắp nơi.
Nói về Ta Di hay tin Ca Ra thất trận bỏ mạng nơi sa trường quân binh tản lạc khắp nơi không khỏi thở dài bằng cho quân binh tìm kiếm. Không bao lâu thời tìm được hết những người tản lạc còn sống sót hơn nghìn người.
Những người sống sót quyết trả thù liền nhập theo quân binh Ta Di. Quân Binh Ta Di luyện tập hơn một tháng mà Ta Di vẫn chưa tiến quân, lòng quân háo hức chiến đấu khí thế tăng lên hừng hực.
Nói về Ta Di bất ngờ điều động quân binh trong đêm Trời vừa sáng bất ngờ đánh vào hang ổ quân phản loạn. quân phản loạn chủ quan cho rằng mới vừa tiêu diệt quân Ca Ra không còn quân binh nào nữa để tấn công liền ăn uống no say lại không đề phòng quân Ta Di ập tới thình lình trở tay không kịp quân Ta Di chém quân phản loạn như chém chuối.
Hồ Quỉ chỉ tay hò hét chống tả thời nghe một tiếng quát to như sấm Phá Núi phóng ngựa lao tới chém một thương như trời giáng, Hồ Quỉ võ nghệ cao cường né tránh kịp múa đao chém tới Phá Núi hai bên đánh nhau long trời lở đất lại một tiếng quát như sấm nổ vang lên Phê Lê phi ngựa tới chém một đao như trời giáng Hồ Quỉ biết mình đánh không lại hai võ tướng liền niệm chú chỉ một cái vào Phê Lê. Phê Lê không lạ gì với lũ yêu tinh liền phi thân né tránh, nhanh như chớp chém vào Hồ Quỉ một đao Hồ Quỉ né tránh không kịp trúng một đao rồi đời hiện nguyên hình là một con chồn ba đuôi to lớn. Phê Lê chặt lấy đầu ra lịnh cho quân binh bỏ vào bao cánh tả quân Ta Di thắng thế ào ào xông tới chém bọn lâu la phiến loạn chết như ra.
Nói về Viên kỳ, Đại Lợi đánh vào phía hữu quân phản loạn, quân phản loạn chống đỡ không nổi vở trận bị quân cánh hữu Ta Di chém thôi là chém bỗng nghe tiếng quát Ác Sát xuất hiện chém quân Ta Di như chém chuối, Tân Kỳ thấy vậy phi ngựa tới chận đánh Ác Sát hai bên giao tranh ác liệt Ác Sát định dùng phép giết chết Viên Kỳ, Đại Lợi lạ gì với bọn yêu tinh nhanh như chớp phi ngựa tới chém cho một đao Ác Sát múa đao chống đỡ rét rét ầm ầm long trời lở đất Đại Lợi chém quá mạnh Ác Sát loạng choạng muốn té ngã, không bỏ lỡ cơ hội Viên Kỳ từ trên lưng ngựa phi thân lao tới chém cho một đạo Ác Sát tránh không kịp toi mạng rồi đời hiện nguyên hình là con sói to lớn, Quân binh lao tới cắt lấy đầu chờ ngày đêm về dâng lên vua.
Nói về Ta Di dẫn quân binh đánh vào chính giữa gặp ngay Hổn Ma hai bên xáp chiến cát bay đá chạy quân Ta Di khí thế dậy non đánh bọn lâu la tơi tả Hỗn Ma xông vào chém quân Ta Di, Ta Di quát lên một tiếng phi ngựa tới chém Hỗn Ma một đao như trời giáng, Hỗn Ma chống đổ ầm ầm đùng đùng Hổn Ma kinh hồn không ngờ đối thủ sức mạnh kinh khiếp như thế, mới đấu nhau vài hiệp biết mình đánh không lại bằng hóa ra tấm lưới chụp xuống Ta Di. Ta Di nhanh chóng lấy thần kiếm ra niệm chú thanh kiếm to lớn hào quang tỏa sáng vận vô cực thần công chém vào tấm lưới, tấm lưới liền bị chém đứt tan biến mất Hổn Ma kinh hãi định chạy trốn nhưng nào có kịp với ảo ma bộ pháp nhanh như chớp Hỗn Ma bị kiếm thần chém rụng đầu hiện nguyên hình là một con Báo Đốm to lớn.
Quân phiến loạn như rắn mất đầu bị quân Ta Di xơi sạch. Quân phiến loạn coi như bị xóa sổ Ta Di vào tận hang ổ thu lượm chiến lợi phẩm vàng bạc châu báu nhiều vô số chúng đã cướp lấy của dân. Bò gà trâu heo có đến hàng trăm con. Ta Di mở tiệc ăn mừng thắng trận.
Nói về công chúa ngày đêm cầu khẩn trời đất phù hộ cho Ta Di được thắng trận bình an trở về. Đức Vua cũng như Công Chúa cho người cập nhật thông tin hàng ngày nắm rõ tình hình của hai cánh quân Đức Vua thường nói với triều thần Ta Di không những võ công cái thế, mà còn mưu trí như thần không thể nào lường được, lại có bộ quần áo chém không đứt đâm không thủng báu vật vô giá trên đời nhất định dẹp tan quân phiến loạn qua cách điều binh khiển tướng. Bằng cách hạ trại cách ra quân phiến loạn không cho quân phiến loạn phát hiện, luyện quân binh trước khi chiến đấu.
Ca Ra thời không làm như thế tiến quân thần tốc làm cho quân binh mất sức, lại nóng lòng muốn giành thắng lợi về mình. Không tập luyện quân binh thuần thục trước khi ra trận khó mà giành thắng cuộc trong lần thi tài nầy. Không khéo bị mất mạng trẩm đã cho người theo dõi mấy năm nay cầm đầu quân phiến loạn không phải con người thường, mà là yêu tinh võ nghệ thần thông pháp thuật cao cường chỉ có Ta Di mới diệt được bằng chứng là Xà Tinh và Đại Bàng đã bị Ta Di giết chết, cả triều thần ai nấy cũng nghĩ như thế, hơn nữa cũng đã mến mộ Ta Di cầu mong Ta Di thắng trận trở về.
Quả đúng như lời Đức Vua nói thông tin từ chiến trận đưa về Ca Ra đã bại trận bỏ mạng nơi sa trường chôn vùi bốn nghìn quân, cả triều thần hoang mang đi tiêu bốn nghìn quân, chỉ còn lại hơn nghìn quân tản lạc Ta Di đã cho quân binh tìm kiếm. Công chúa nói thưa Phụ Vương cần viện binh thêm không? Đức Vua nói quân cần tinh nhuệ không cần số nhiều, Ta Di đang thao luyện quân binh, cũng như nâng cao lòng sĩ khí chiến đấu, khi nào hợp tình hợp lý thời Ta Di sẽ ra quân thần tốc quân phiến loạn trở tay không kịp bị Ta Di quét sạch không còn.
Triều thần đang hộp thời có thông tin tình hình chiến sự biên giới quân phiến loạn bị xóa sổ với lối đánh kỳ lạ thần tốc của Ta Di. Cả triều thần đều vui mừng không mấy chốc tin thắng trận quân phiến loạn bị xóa sổ lưu truyền khắp cả nước.
Nói về Ta Di dẹp tan quân phiến loạn thu quân trở về kinh thành đoàn quân đi đến đâu dân chúng reo hò đến đó ca ngợi không hết lời. Đoàn quân vừa về tới kinh thành đích thân Đức Vua Hoàng Hậu công chúa, cùng triều thần ra khỏi cung thành tiếp đón đoàn quân. Dân chúng reo hò ca ngợi không dứt có người ca hát.
Ta Di Ta Di
Anh Hùng Pha Ra
Trừ yêu diệt Ma
Thắng trận trở về
Khí thế ngút trời
Phiến loạn rồi đời
Đất nước yên bình
Ta Di đệ nhất anh hùng
Danh bay vạn cõi lẫy lừng càn khôn
Công chúa La Na mặt mày phấn khởi nét hoa rạng rỡ vừa nhìn thấy Ta Di thời vui sướng reo lên chàng đã trở về. Ta Di tuy thắng trận trở về nhưng lúc nào cũng bình dị luôn luôn khiêm tốn đức độ cao vời những ai tiếp cận đều nhớ mãi không quên. Ta Di dục ngựa tới trước xuống ngựa quỳ lạy Đức Vua Hoàng Hậu, khiêm cung lễ phép triều thần ai cũng khen ngợi ca tụng.
– Nói về Ta Di cùng công chúa nên nghĩa vợ chồng Ta Di trở thành Phò Mã chung sống hạnh phúc, sanh được ba người con hai trai một gái. Phá Núi được thăng chức từ tướng lên đại tướng, Phê Lê, Viên Kỳ, Đại Lợi, đều được phong tướng lấy vợ xinh đẹp sống yên vui hạnh phúc, con cái đầy nhà.
Đức Vua Pha Ra về già nhường ngôi cho Ta Di đất nước Pha Ra càng về sau càng hùng mạnh thái bình thịnh trị âu ca.
74. CÂU CHUYỆN NGOẠI GIAO
Ngày xửa ngày xưa nơi địa cầu gần cuối tiểu kiếp thứ 7 nền văn minh khoa học vật chất đi đến đỉnh cao, thế giới địa cầu nhân loại hình thành hai xu thế.
Một xu thế tiến lần đến Hiến Pháp Trị, Luật Pháp Trị đi vào công bằng bình đẳng loại bỏ độc tài độc trị Phong Kiến Vua Chúa.
Một xu thế khác đi ngay vào độc tài Đảng Trị, loại bỏ độc tài độc trị Phong Kiến Vua, Chúa. Khi ấy nơi Phương Đông có một đất nước Dương Việt, đến thời kỳ Hạ Ngươn Mạt Pháp sự hưng thịnh của các Đảng Phái ra đời càng nhiều loại trừ nền Phong Kiến độc tài Vua Chúa lạc hậu, ........ độc tài Đảng Trị theo Thể Chế một mức cao hơn.
Đảng nào thủ nhiều thủ đoạn, lắm chiêu bài độc ác thời chiếm nhiều ưu thế loại trừ các đảng phái khác chiếm lĩnh ngôi vị thống lãnh đất nước trở thành Độc Tài Đảng Trị thay cho độc tài độc trị Phong Kiến Vua, Chúa.
Với Thể Chế Độc Tài Toàn Trị Đảng Lãnh Đạo đưa đất nước tiến tới quốc hữu hóa, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng cải cách đổi mới đất nước lên một tầm cao mới hơn hẳn bao triều đại Độc Tài Phong Kiến Vua Chúa đã qua. Nhất là tài quản lý con người theo thể chế Độc Tài Toàn Trị chặt cứng không cựa quậy được vận hành xã hội đi vào quốc hữu hóa.
Với Thể Chế Độc Tài Toàn Trị cái gì cũng của Nhà Nước sự chỉ đạo sâu sát, đến nỗi quản lý cả ăn, ngủ, đái, ỉa không để phí bỏ. Nói gì đến chuyện làm ăn, thời càng quản lý chặt chẽ cây kim sợi chỉ cũng không lọt, làm gì cũng phải đi vào khuôn khổ cúi xin, còn cho hay không là quyền của lãnh đạo. Với thế thời, thời thế vương quan lắm nhiều tật bệnh nhất là bệnh tham nhũng, quan liêu hách dịch tham quyền cố vị vơ vét của dân lan tràn thành dịch không còn thuốc chữa. Muốn được việc làm ăn chạy bửa thời ra sức van xin nài nỉ đút lót.
Người dân nào có chút hiểu biết thời hiểu bệnh của quan đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn, thời nói nho nhỏ quan cũng nghe, không đồng tiền đi trước dù cho lời nói to như sấm nổ mình nói mình nghe, lộc quan không có cái dè luống công.
Độc Tài Đảng Trị. Đảng Cải Cách lãnh đạo toàn diện, cao hơn Độc Tài Phong Kiến Vua, Chúa là ở chỗ quản lý sạch bách cái gì cũng của nhà nước, con chim trên trời cũng khó mà được tự do bay nhảy, con cá dưới sông con cua dưới biển, rong rêu, bọt, bèo trôi nổi cũng phải nằm trong sự quản lý. Thuận Đảng thời sống chống Đảng thời chết, nhiều kiểu chết, không sao kể hết đại khái tiêu biểu mà thôi. Chết vì tù, chết không việc làm, chết đói, chết vì sợ hãi, chết vì sa thải, chét bị cô lập, chết sinh bệnh tật mà chết, v.v… Với tài lãnh đạo tạo ra nhiều cái chết như thế, ai mà không sợ nhứt hô bá ứng dân chúng răm rắp nghe theo phát triển kinh tế theo mô hình lấy sức dân là chính.
Với sự ra quân ồ ạt dân chúng ra đồng đông nghịt như đàn quạ, đàn ông kẻ cuốc người cày, đàn bà phụ nữ thi nhau trồng ngô cấy lúa, dưới bầu trời nắng chang chang, hơi nóng hừng hực, những giọt mồ hôi nhỏ giọt chảy ròng ngó thấy, lúc mưa dầm cũng phải hăng hái thi đua, với phương châm lao động là vinh quan, trong ba ngày tết cũng xén bớt một ngày mùng một ra quân, không có thời nào đề cao lao động cao ngút trời xanh như thế, xưa nay độc tài Vua, Chúa Phong Kiến mấy ai làm được cổ kim giờ đây mới thấy.
Một hôm hàng cấp cao Độc Tài Toàn Trị mở cuộc hội họp quy mô mở rộng phương châm làm ăn đối tác với các nước, đồng chí Chủ Tịch kim Bí Thư tỉnh nói.
Để cho thế giới những nước đi theo con đường Hiến Pháp Trị, mở rộng tầm mắt, với tài lãnh đạo Cải Cách Độc Tài Đảng Trị làm ăn ra phết phát triển kinh tế Dương Việt Ta. Trung Ương lấy tỉnh ta làm nơi đối tác với các nước hôm nay có nhiều nước theo xu thế Hiến Pháp Trị đến tham quan học hỏi trao đổi kinh nghiệm làm ăn, các Đồng Chí chửng bị sự tiếp đón niềm, tiệc tùng mở tiệc tiếp đãi cho thật hoành tráng, những người mẫu, những giọng hát hay phô trương bề thế ca ngợi sự phát triển của đất nước ta.
Đồng Chí Chủ Tịch Kim Bí Thư phô trương lực lượng tiếp đón ăn nói ra phết, nhất là thông dịch viên nhiều khi thiếu sót đang nói gà chuyển sang qua vịt, người nghe không hiểu nếp tẻ gì cả. Những lãnh đạo cao cấp các nước theo con đường Hiến Pháp Trị đến nước Dương Việt tham quan học hỏi, trong những lãnh đạo cao cấp các nước có Tổng Thống Ma Ghi.
Tổng Thống Ma Ghi nghe nước Dương Việt dưới sự dẫn dắt lãnh đạo tài tình của Đảng Cải Cách Độc Tài Toàn Trị làm ăn phát triển tiến nhanh, tiến mạnh, tiến bền vững, ........ xã hội quốc hữu hóa khó có nước nào theo kịp, theo những lời ca ngợi quảng bá của nước Dương Việt.
Tổng Thống Ma Ghi dẫn theo các ban ngành chủ lực, các doanh nghiệp hàng đầu trong nước đến nước Dương Việt mở rộng tầm mắt tham quan học hỏi.
Sự tiếp đón bề thế, tiếp đãi toàn cao lương mỹ vị, nhân viên phục vụ toàn gái đẹp làn da trắng nuốt, áo quần bó sát có tài ca hát, phô trương vòng eo đạt chuẩn. Tổng Thống Ma Ghi không khỏi bái phục sự tiếp đãi đầy lãng mạn cũng như sự tốn kém tiền của sức dân.
Tổng Thống Ma Ghi cũng thừa nhận rằng không tài nào làm nổi chắc là dân Dương Việt giàu lắm, nên Đảng mới ăn xài cao chín tầng mây như vậy.
Để được tận mắt chứng kiến sự lãnh đạo tài tình làm ăn kinh tế của Đảng Cải Cách Độc Tài Toàn Trị bằng nói với các ban ngành theo mình các ông phải học hỏi, xem xét cho kỷ, ghi hình cũng như học cách làm ăn.
Đồng Chí Chủ Tịch Kim Bí Thư cùng đội ngũ kỳ tài lãnh đạo dẫn phái đoàn các nước trong đó có phái đoàn nước Ma Ghi đến tham quan cơ sở phát triển làm ăn theo ngành nông nghiệp, bằng dẫn đến một cánh đồng rộng lớn mỗi mùa thu về vài nghìn tấn thóc.
Khi đến nơi các phái đoàn tham quan học hỏi sửng sốt. Tổng Thống Ma Ghi thời quá bất ngờ. Vì thấy dân chúng ra đồng nhiều như đàn quạ không khác gì ngày hội, đàn ông trai trán thi nhau cày cuốc xốc phả, đàn bà phụ nữ thi nhau trồng cấy với số đông dẫn đạp lên bùn lầy tung tóe như những dũng sĩ băng sông vượt núi, không một bóng máy cày, máy bừa, máy cấy nào cả.
Tổng Thống Ma Ghi khen không hết lời, bằng nói sự lãnh đạo tài tình một mô hình làm ăn hiệu quả. Đất nước chúng tôi không bao giờ làm nổi huy động sức dân đông đến dường nầy. Thời cần gì máy cày máy bừa cũng nát bét bùn đất sạch bách cỏ cây, đâu cần chi phí đầu tư tốn dầu tốn xăng cho tốn kém.
Một vị tham mưu cho Đảng nói. Nhờ sự lãnh đạo tài tình của Đảng biến cánh đồng bạc màu trở thành cánh đồng năm tấn trên một héc ta.
Khi ấy có một vị cấp cao nước Ma Ghi tách đàn đến gặp người dân hỏi nhỏ làm ăn theo kiểu tập thể huy động sức người thế nầy thời khẩu phần được bao nhiêu?
Người dân thật thà nói đổ mồ hôi sôi nước mắt cũng chỉ đủ ăn, làm ngày làm đêm tối mày tắc mặt, một năm cũng chỉ mua được hai mét vải không đủ che thân, lấy đâu ra dư dả no cơm ấm áo nói xong thời bỏ đi thở dài lắc đầu ngao ngán.
Vị Chủ Tịch Kim Bí Thư dẫn các phái phái đoàn tham quan các nước đến tham quan các cơ sở công nghiệp nhà máy. Tổng Thống Ma ghi thấy công nhân ở đây hai lỗ mũi tranh nhau mà thở, phần lớn là làm thủ công sức người là chính, sản phẩm làm ra không được bao nhiêu, cung cấp khan hiếm nhỏ giọt không theo kịp nhu cầu xã hội. Xe sắp hàng nối đuôi khác gì toa tàu lửa, chờ cả tháng mà chưa có hàng.
Cán bộ làm giàu không cần tốn sức, quà cáp nườm nượp người nào cung xe hơi nhà lầu ô tô. Chỉ thua ông vua cung phi mỹ nữ hàng tá mà thôi.
Tổng thống Ma Ghi nói, ở đất nước chúng tôi những sản phẩm làm ra khó mà tiêu thụ, vì người dân được quyền lựa chọn, nếu sản phẩm làm ra không đạt tiêu chuẩn liền bị tẩy chay đi đến phá sản. Không như ở đây lúc nào hàng hóa cũng khan hiếm cung không đủ cho sự nhu cầu thời làm gì có chuyện thất nghiệp nếu không có sự lãnh đạo tài tình của Đảng. Thời làm gì có chuyện công nhân hai lỗ mũi tranh nhau mà thở vì làm không kịp cho sự nhu cầu.
Đồng Chí Bí Thư kim Chủ Tịch cùng cùng các ban ngành tham mưu cho Đảng thấy Tổng Thống Ma Ghi lúc nào cũng khen ngợi thời không khỏi tự hào nói, mô hình làm ăn hiệu quả là nhờ sự lãnh đạo tài tình của Đảng, kinh tế phát triển luôn ở mức cao năm sau hơn năm trước. Đi đến chỗ nào Tổng Thống Ma Ghi cũng khen, thời nghĩ rằng sẽ ký hợp đồng giao thương mỏi tay.
Nào hay đâu khi về đến cơ quan Lãnh Sự Ngoại Giao Tổng Thống Ma Ghi nói lần nầy qua đây chỉ là chuyến đi tham quan học hỏi. Việc ký hợp đồng làm ăn trao đổi hai chiều phải chửng bị kỷ hơn, nhất là hai bên cùng có lợi.
Trước khi về nước Tổng Thống Ma Ghi mời các ban ngành thành phần kinh tế chủ lực qua thăm nước Ma Ghi. Chủ Tịch Kim Bí Thư nhận lời, hứa hẹn sẽ sang thăm quan nước Ma Ghi. Chủ Tịch Kim Bí Thư nói chúng tôi nhân tiện qua bên ấy ký hợp đồng đa phương hóa nhiều lĩnh vực giao thương kinh tế giao kết luôn thể.
Nhận lời mời nước bạn, ban lãnh đạo cấp cao nhà nước Dương Việt kết hợp nhiều tỉnh thành, nhiều ban ngành một lực lượng hùng hậu, nhất từ xưa đến nay có cả những thành phần dày kinh nghiệm chăn nuôi gia súc đến nước Ma Ghi.
Chiếc phi cơ vừa đáp xuống sân bay, Tổng Thống Ma Ghi với đoàn xe con đắt giá nhất thế giới tiếp đón phái đoàn Dương Việt làm choáng ngợp phái đoàn cao cấp Dương Việt. Phái đoàn cao cấp Dương Việt được đoàn xe con đắt giá nhất thế giới chở đến nơi lãnh sự quán Ngoại Giao nước Ma Ghi nghỉ ngơi cũng như sự tiếp đãi.
Một cuộc thiết đãi được mở ra, phái đoàn Dương Việt thật bất ngờ chẳng thấy cao lương mỹ vị nào cả, toàn là những món ăn thường dân, ai cũng có thể mua vì giá cả phải chăng không quá đắc.
Qua ngày hôm sau Tổng Thống Ma Ghi cùng các thành phần kinh tế đã từng đến Dương Việt. Dẫn phái đoàn đủ thành phần ban ngành cấp cao hùng hậu Dương Việt đến cánh đồng rộng lớn, rộng gấp ba lần cánh đồng năm tấn của Dương Việt để tham quan.
Các ban ngành hùng hậu nhiều thành phần làm ăn kinh tế Dương Việt đến nơi chứng kiến tận mắt chẳng thấy đôi trâu bò nào cả, cũng không có dân chúng đông như đàn quạ dẫm đạp lầy ruộng. Mà chỉ thấy hơn mười con trâu sắt rìn rịn nghe êm tai xịt khói lên trời mời mây xuống để xem tài cày bừa xốc phả. Mỗi con trâu sắt mang 20 lưỡi cày rượt đuổi xem đã con mắt cỏ xanh bị cày lật vùi lấp, cỏ xanh chưa kịp ngóc đầu xả hơi, thời mấy con trâu sắt theo sau bừa xốc tả tơi, cánh đồng ruộng mới đó chưa lâu màu xanh của cỏ sạch bách thay vào đó là màu đen thẫm bằng phẳng màu mỡ của đất.
Từ nơi cánh đồng lại xuất hiện thêm mười con trâu sắt trông có vẻ mảnh mai càng gọng múa may, có lẽ những con trâu sắt cái rìn rịn thi nhau cấy, chỉ trong chốc lát cánh đồng rộng lớn chó chạy ngay đuôi màu xanh của lúa trải khắp phủ kín cánh đồng.
Phái đoàn Dương Việt tưởng như là đang trong mơ đang lạc đến một thế giới khác, trằm trồ không dứt. Tổng Thống Ma Ghi nói đây là mô hình phát triển Tư Nhân, tự do kinh doanh, tự do phát triển những gì Hiến Pháp cho phép, Luật Pháp bảo vệ. Không có cái gọi là nhà nước lãnh đạo tài tình. Cũng không có sự xin, cho, nào cả.
Tổng Thống Ma Ghi dẫn phái đoàn Dương Việt đến cánh đồng rộng lớn xanh mướt, nhìn thấy những máy bay không người lái phun thuốc trừ sâu. Một người nông dân trông có vẻ thảnh thơi, đứng hứng gió nhấp nháy ngón tay điều khiển. Cánh đồng rộng lớn không đầy tít tắc không bao lâu bướm sâu chẳng còn một con.
Bên kia là cánh đồng lúa chín, phái đoàn Dương Việt vừa đi tới ai nấy cũng trầm trồ kể gì 10 tấn trên hec ta, người gặt không thấy chỉ thấy những con bò sắt vừa gặt vừa gôm rạ, vừa phun lúa. Theo sau kế bên là những con cào cào sắt vừa õng ẹo vừa hứng no nê thời chạy đi, để cho con khác đến hứng ăn, cánh đồng lúa chín rộng lớn trong chốc lát là hết sạch.
– Đến lúc nầy đồng chí Bí Thư Chủ Tịch nhìn Tổng Thống Ma Ghi với vẻ khâm phục hỏi, làm ăn kiểu nầy thời đàn quạ ở không bay đến nơi nào.
Thay cho câu trả lời Tổng Thống Ma Ghi dẫn phái đoàn tham quan Dương Việt đến những khu nhà máy, làm ra những sản phẩm có giá trị. Đồng chí Bí Thư Chủ Tịch thấy người nông dân ở đây đã qua trường lớp làm chủ máy móc, điều khiển máy móc làm ra sản phẩm năng xuất cao ngất ngưỡng, một người làm ra sản phẩm bằng hàng trăm người làm thủ công. Đồng Chí Bí Thư Chủ Tịch không khỏi ngớ ngẩn thì ra là vậy.
Từ nông nghiệp, thủ công nghiệp, công nghiệp đa dạng, đa ngành nghề không phải dùng sức con người mà dùng sức máy móc do con người điều khiển, thảo nào đất nước Ma Ghi giàu mạnh đến thế đúng là các nước theo mô hình tư hữu hóa phát triển tư nhân đi theo con đường Hiến Pháp trị Luật Pháp bảo hộ họ đã biến trần gian thành thiên đàng cực lạc.
Một mô hình làm ăn phát triển kinh tế theo con đường sở hữu hóa phát triển tư nhân là một hướng đi đúng. Chỉ cần một tổng giám đốc điều hành cả hàng vạn công nhân cũng không hề thấy mệt dễ không, bộ máy gọn nhẹ không cồng kềnh, mà hiệu quả cao.
Còn phát triển theo kiểu Cải Cách tập trung lấy sức người làm chính chưa chắc đã hơn kiểu làm ăn Vua, Chúa phong kiến, nói gì theo kịp những nước văn minh không nghị định, không công văn, không cần dài tay chỉ đạo. Chuyên chính một Hiến Pháp nhất quán công bằng bình đẳng ai cũng như ai đi vào cạnh tranh lành mạnh. Của cải làm ra dồi dào cung lúc nào cũng đủ phục vụ cho nhu cầu. Có thể nói là dư thừa xuất khẩu bán qua các nước khác làm giàu cho đất nước mình.
Sự tham quan bấy nhiêu cũng đủ, khi họ ở trên mây còn mình thời ở nơi đất cái, không nói là quá lạc hậu so với họ. Chuyến đi không có sự ký kết giao thương làm ăn hai bên cùng có lợi nào cả. Mà ký kết mở cửa giao thương, mời những giáo sư, tiến sĩ truyền dạy nền khoa học tuyên tuyến cho Dương Việt.
Chuyến đi tưởng đâu làm thầy thiên hạ, té ra mời thiên hạ làm thầy cho mình, như bong bóng xì hơi còn lên mặt gì nữa.
Đồng chí Bí Thư Chủ Tịch dẫn phái đoàn hùng hậu trở về nước như bánh xe xẹp lốp, báo cáo lên trung ương ra sức đổi mới Cải Cách theo hướng làm ăn người ta. Nhưng ngặt nỗi thể chế độc tài độc trị già cỗi xơ cứng.
Càng Cải Cách đổi mới thời tiền của chảy vào túi tham quan, bầy sâu càng phình càng béo. Hô hào sống theo Hiến Pháp, làm theo Hiến Pháp, nhưng thể chế độc tài Đảng Trị không thay đổi biến thể chế chủ trương trở nên quái dị đầu Gà thân Vịt. kẻ kéo xuống nước người lôi lên bờ, kẻ níu người trì làm cho đôi chân béo phì trở thành bộ máy cồng kềnh không lương mà trả. Làm không ra của tranh nhau ăn lại quá nhiều, của núi cũng hết nói gì đến nghèo xác nghèo xơ. Ngân sách tiêu hao thâm hụt hàng năm quá lớn, tám đại nạn theo đó cũng ra đời thi nhau tàn phá chế độ.
1- Quốc nạn tham nhũng xảy ra tàn phá chế độ vô phương cứu chữa.
2- Chủ nghĩa quái thai đầu gà mình vịt hai xu thế khác nhau kẻ níu xuống nước, người trì lên bờ rốt cùng dẫn tới chia bè rẽ phái triệt hạ lẫn nhau, tàn phá chế độ.
3- Nạn Thiên Tai khắc nghiệt, dịch bệnh hoành hành bởi chuyển đổi chu kỳ theo luật tuần hoàn cuối Hạ Ngươn Mạt Pháp chuyển sang Thượng Ngươn Thánh Đức những gì không phù hợp đi dần vào loại bỏ tàn phá thời cuộc dẫn đến làm thay đổi chế độ.
4- Nạn thừa lao động dẫn đến thất nghiệp sinh ra bao chuyện không hay tàn phá chế độ
5- Nạn học thành tài không đất dụng võ, cái tài bị bỏ ngỏ sanh ra bao điềm dở gây tai họa cho đất nước, chế độ theo đó cũng xuống cấp đi đến hấp hối không nói là chờ ngày ra đi
6- Nạn ô nhiễm môi trường sống trong độc hại sinh ra nhiều chứng bệnh đã nghèo đói, càng thêm đói nghèo đủ loại giặc ra đời xã hội khó mà bình yên, chế độ cũng theo đó đi tiêu.
7- Nạn dân quá khổ, sanh ra phỉ báng chế độ, chế độ đàn áp hành dân. Dân ví như nước Chế Độ là Cá nước đã cạn đương nhiên là Cá cũng rồi đời.
8- Nạn cạnh tranh mạnh được yếu thua, kẻ thắng thế là vua, kẻ thua thế bị bắt cho là giặc. Ruột, Gan, Phèo, Phổi trục trặc sống làm sao được thể chế đột quỵ từ giả thế cuộc trở về khói mây.
– May thay Nguồn Cội hồi sinh soi đường dẫn lối cứu nguy nước nhà Dương Việt vì thế kiếp nạn tai qua, thoát khỏi nô lệ ngoại bang, sang trang sử mới hiệp theo chu kỳ tạo hóa. Không còn thể chế độc tài độc trị hội nhập chung cùng các nước văn vinh Gà chơi với Gà, không còn cảnh đầu gà mình Vịt. Không bao lâu thời theo kịp Nước Ma Ghi.
75. NHƠN ĐẠO, CÁI GỐC TẤT CẢ ĐẠO
Vào thời dựng nước nơi thượng viện Quốc Đạo Quốc Tổ truyền giáo cho hàng Vương Quan.
Quốc Tổ truyền xong căn bản Nhơn Đạo. Để dễ hiểu dễ nhớ Quốc Tổ tóm lại những điều chính yếu cốt lõi cơ bản trong Nhơn Đạo. 1 là có Nhân, 2 là có Nghĩa, 3 là có lễ, 4 là có Trí, 5 là có Tín, 6 là có Trung, 7 là có Hiếu, 8 là biết Thuận Hòa, 9 là biết Liêm Sỉ, 10 là lòng Quảng Đại Bao Dung. Những ai chỉ cần làm được ba điều trong 10 điều căn bản Nhơn Đạo, thời không còn sa đọa vào ba đường ác Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh. Những ai không vi phạm 10 điều căn bản Nhơn Đạo, lại sống theo đó mà hành sự đối nhân xử thế thời nhất định trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Vì sao lại nói như thế vì Nhơn Đạo là cái Gốc của tất cả Đạo.
Khi ấy có một vị tên là Cao Tổ.
Chắp tay hướng về Chí Tôn Thiên Đế thưa rằng;
Thưa Chí Tôn Thiên Đế:
Đã là con người con cái nhà Trời, sao còn phải sa đọa vào tam đồ khổ Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh.
Quốc Tổ nói khá khen cho Đạo Sư Cao Tổ, Ông vì Vương Quan, cũng như những thế hệ sau nầy hiểu rõ về sa đọa luân hồi mới hỏi như vậy.
Quốc Tổ thuyết giảng rằng: Con người chỉ là bộ máy xác thân tiểu thiên vũ trụ do Tổ Tiên Tạo Hóa Như Lai. Thâu Tóm Chơn Âm, Chơn Dương, Tinh Hoa Vũ Trụ hiện thân ra Cha Trời Mẹ Trời. Chánh Thân Chánh Mẫu.
Rồi từ Chánh Thân, Chánh Mẫu sanh tạo ra con người, con người chỉ là Bộ Máy Xác Thân Tiểu Thiên Vũ Trụ, nên con người không quyết định sự luân hồi, cũng như thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa hay lên thiên đàng xuống địa phủ, mà chính là Linh Hồn con người quyết định tất cả.
Linh Hồn con người là Tiểu Linh Hồn vũ trụ do Đại Linh Hồn vũ trụ phân hóa pháp thể Linh Giác tạo ra ví như Nước tạo ra Bọt Nước. Bọt Nước cũng chính là nước. Ví như Lực tạo ra Điện. Điện cũng chính là Lực. Ví như bột làm ra Bánh, Bánh cũng chính là Bột. Vì vậy Đại Linh Hồn Tổ Tiên Tạo Hóa Vũ Trụ bất tử, không sanh không diệt. Thời mỗi tiểu Linh Hồn cũng bất tử, không sanh không diệt. Không khác gì Đại Linh Hồn Tổ Tiên Vũ Trụ.
Tiểu Linh Hồn đầu thai vào Bộ Máy Xác Thân Tiểu Thiên vũ trụ con người, tu luyện tiến hóa Linh Hồn, cho đến khi thành Đạo Làm Người, trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Nếu tu luyện tiến hóa chưa thành Đạo Làm Người.
Có nghĩa là: Linh Hồn đầu thai làm người rồi, nhưng chưa tiến hóa thành Đạo Làm người. Linh Hồn tức là Linh Căn còn ở dạng Súc Sanh, Cầm, Thú, Bò Sát. Khi mất thân người rồi, tái sanh đầu thai làm người trở lại tu luyện cho đến khi nào thành Nhơn Đạo làm người, thành tựu 10 điều căn bản như đã nói trên. Thời trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa siêu sanh lên các tầng trời, cõi trời sanh sống trong thế giới Thiên Đàng Cực Lạc an vui hạnh phúc tự tại.
Nói cho dễ hiểu;
Mỗi Tiểu Linh Hồn đầu thai làm người. Tu Luyện chừng nào cho có Lòng Nhân, không còn Bất Nhân.
Cũng như Tu luyện thành tựu Nhân Nghĩa, không còn Bất Nghĩa.
Tu luyện đến khi nào biết đối nhân xử thế lấy Lễ làm đầu không còn Vô Lễ.
Tu luyện đến chừng nào tiến hóa Ý Thức Nhận Thức phân biệt được ác, thiện. đúng sai, phước, họa, sa đọa, siêu thăng, nói chung là đạt đến cảnh giới trí tri việc gì nên làm việc gì không nên làm ra khỏi Ngu Si. Trở thành người có Trí.
Tu luyện cho đến khi nào thành tựu lòng tin nơi Cội Nguồn cũng như làm việc gì cũng phải giữ chữ Tín.
Tu luyện cho đến khi nào đạt đến Lòng Trung Thành, có trách nhiệm đối với Cội Nguồn, non sông, đất nước, dân chúng. Có nghĩa là không phản bội lại Cội Nguồn, Non Sông, Đất Nước, Dân Chúng. Trung thành tuyệt đối với Cội Nguồn, Non Sông Tổ Quốc, Dân Chúng.
Tu luyện cho đến khi nào thành tựu chữ Hiếu không quên ơn sanh thành dưỡng dục. Chánh Thân Chánh Mẫu, Phụ Thân Phụ Mẫu, công ơn dạy bảo các Bậc Tôn Sư.
Tu luyện cho đến khi nào thành tựu Nhân Đức trên Thuận dưới Hòa sống biết Liêm biết Sỉ.
Tu luyện cho đến khi nào thành tựu lòng Quản Đại, cũng như sự Bao Dung sống vì người không vì mình Tánh Khiên Hòa, không Cố Chấp, biết tha thứ tình thương rộng lớn đối với nhân loại anh em.
Thời nhất định trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa trở lại Thiên Đàng Cực Lạc an vui tự tại. Vì sự thành tựu Nhơn Đạo khó khăn như thế nên mỗi Tiểu Linh Hồn phải trả qua không biết bao nhiêu số kiếp. Cứ 16 triệu 800 một tiểu kiếp cho một đại khóa tu luyện tiến hóa Linh Hồn.
Mười điều căn bản Nhơn Đạo nói trên chính là Phật Tánh, Thánh Tánh, Thiên Tánh, có trong Lương Tâm chính là Lương Tri của mỗi con người. Không cần tìm cầu đâu xa chỉ cần làm sáng mười điều căn bản Nhơn Đạo trong Lương Tâm. Thời trên đầu liền có hào quang. Thậm chí là Vô Lượng Quang.
Những ai hành động trái ngược lại Lương Tâm thời những người ấy còn ngu si, mê muội. Nói chung là Thiếu Hiểu Biết. Thời coi như chưa đắc đạo Nhơn Luân. Nhơn Đạo chưa thành còn ở tánh Thú, Cầm. Phải chịu luân hồi tùy theo ác, thiện nhận lấy quả báo.
Không có Tánh người đương nhiên phải chịu đầu thai trở lại kiếp thú, cầm. Đã không có tánh người còn làm ác hại người đương nhiên phải sa đọa xuống các tầng Địa Phủ hoặc biến thành Ngạ Quỉ. Luật Trời phân định hai cảnh giới rõ ràng Thiện thời siêu sanh Thiên Đàng Cực Lạc. Ác phải chịu sa đọa xuống các tầng Địa Phủ Cực Khổ. Vì Trong cõi Âm Phủ có hình thành vô số Địa Ngục hành hình tội nhân.
Nói tóm lại: Mười điều cơ bản của Đạo Làm Người thành tựu trọn vẹn thời Linh Hồn đã tiến hóa lên Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Nếu thành tựu được bảy tám điều thời khi mãn kiếp trần chết đi liền đầu thai trở lại làm người, thường có uy quyền cũng như sự giàu có thông minh sáng láng. Nếu tiếp tục tu hành đạt đến mười điều cơ bản Đạo Làm Người, Thời trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa siêu sanh về các tầng trời, các cõi trời hưởng phước sống trong sự giàu sang sung sướng muốn gì được nấy an vui tự tại.
Lúc bây giờ trong pháp hội có vị Đạo Sư tên là Cao Tông chắp tay hướng về Chí Tôn Thiên Đế thưa rằng, thưa Đức Chí Tôn Thiên Đế:
Những người xưa nay lầm đường lạc lối rời ra Lương Tâm của chính mình trở thành những người Bất Nhân, Bất Nghĩa, Vô Lễ, không có chữ Tín, chẳng Trung chẳng Hiếu, thường gây gỗ, không biết Liêm, Sỉ là gì. Tánh Keo Kiệt lại hung sùng ác sát. Nay nghe được lời dạy bảo của Đức Chí Tôn. Ăn Năng sám hối Tu luyện tiến hóa, biết Phân Biệt Thiện Ác, có Nhân, có Nghĩa, có Lễ, có lòng Khoan Dung Độ Lượng, có Trung có Hiếu, Biết Cội Biết Nguồn, nói giữ lời, biết hòa thuận anh em. Khi mãn trần những người nầy có bị sa đọa xuống các Tầng Địa Phủ cũng như luân hồi trở lại Cầm, Thú không?
Quốc Tổ nói khá khen cho Cao Tông Ông vì Pháp Hội, cũng như hậu thế về sau mà thưa hỏi như vậy.
Chí Tôn Quốc Tổ dạy rằng: Những người biết sai thời sửa tự mình lấp cửa sa đọa, lại biết tu hành tiến hóa Linh Hồn được như vậy thời tội ác trước kia đâu còn ác căn tiêu trừ hết thảy. Trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, coi như vĩnh viễn không còn luân hồi trở lại loài Cầm, Thú. Mãi Mãi sống trên quê hương thiên giới. Nghe xong Vương Quan ai nấy cũng chứng quả Nhân Luân thành Đạo Con Người Trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.
Khi ấy trong pháp hội có vị Đạo Sư tên là Cao Tằng chắp tay hướng về Chí Tôn Thiên Đế thưa rằng.
Thưa Đức Chí Tôn Thiên Đế.
Những người thành Đạo Nhân Luân trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa có cần phải tu luyện tiến hóa Linh Hồn nữa không?
Chí Tôn Quốc Tổ nghe xong thời khen rằng. Khá khen cho Cao Tằng ông vì pháp hội, cũng như về hậu thế mai sau mà thưa hỏi như vậy ta sẽ vì Ông mà nói.
Những người đã đắc Đạo Nhân Luân, thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Nhưng muốn gặt hái thành quả Phật, quả Thánh, quả Tiên, quả Thần, quả Chúa. Thời phải ra sức cứu khổ cứu nạn nhân loại con người cũng như dìu dắt nhân loại con người trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa tức thời lên ngôi Phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Tổ, Thần Tổ, Chúa Tổ thành lập cõi nước Trời, cõi nước Phật, cõi nước Thánh, cõi nước Tiên, cõi nước Thần, cõi nước Chúa thành quả viên mãn an vui tự tại.
Quốc Tổ thuyết giảng xong Vương Quan đều chứng ngộ quả vị Nhơn Đạo cái Gốc thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa trên đầu phát tỏa hào quang.
Khi ấy có vị Vương Quan chấp tay hướng về Quốc Tổ thưa rằng. Thưa Đức Quốc Vương: Về sau nếu ai nghe được Kinh Nầy mà không tin có phải là ngu si mê muội đáng tiếc lắm không?
Quốc Tổ khen, Ông quả thật là người có đức muốn khai mở thật trí thật chứng về cơ duyên nên mới hỏi như vậy.
Việc khó được hôm nay đã được.
Việc khó gặp hôm nay đã gặp nhân duyên tốt đẹp như vậy, may mắn được làm người, may mắn gặp Chánh Pháp. Không lo tu luyện tiến hóa Linh Hồn trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, sanh tâm hành ác phải chịu luân hồi trở lại loài Cầm, Thú, sa đọa Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh. Thời không có gì đáng tiếc cho bằng. Cơ hội hàng vạn ức kiếp đã bỏ qua.
Những người nầy đã đánh mất tất cả, mất cơ hội thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, mất cơ hội làm chủ vũ trụ. Mất cơ hội làm chủ các cõi thiên đàng cực lạc, tiếc thay tiếc thay. Nơi Pháp Hội nghe Quốc Tổ truyền dạy như vậy ai nấy cũng phát tâm tu theo Nhơn Đạo cái gốc các Đạo, nền tảng Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.
Lúc bấy giờ có vị Đại Văn Quan từ chỗ ngồi đứng dậy chắp tay hướng về Chí Tôn Quốc Tổ thưa rằng:
Thưa Chí Tôn Quốc Vương:
Những người sống theo Đạo Nhơn Luân, vì do nghịch cảnh xảy ra kìm tâm không nổi, gây ra tội lỗi, khi chết đi có bị sa đọa luân hồi Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh không?
Quốc Tổ khen, Ông quả là người có tâm có đức nên mới thưa hỏi như vậy, ta sẽ vì Ông mà nói.
Những người tu theo Nhơn Luân Hiếu Nghĩa Đạo Làm Người dù chỉ là một ngày cũng không sa đọa Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh huống chi tu luyện nhiều tháng nhiều năm. Vì nghịch cảnh nghiệt ngã bối cảnh bức xúc, kìm tâm không được gây ra tội lỗi nếu nặng thời phải vào tù nơi chốn nhân gian, nhưng không bỏ Đạo Nhơn Luân. Khi Mãn kiếp trần cũng được siêu sanh về Hạ Thiên Vũ Trụ Non Tiên Cực Lạc Địa Tiên sống an vui hạnh phúc.
Quốc Tổ thuyết giáo truyền dạy xong trong pháp hội hầu hết đều chứng quả Trí Huệ trên đầu phát tỏa hào quang, trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, nơi chốn trần gian.
76. ĐỊNH LUẬT CHU KỲ, LUÂN CHUYỂN TUẦN HOÀN
Ở vào thời Dựng Nước nơi Thượng Viện Quốc Đạo Quốc Tổ truyền dạy Quy Luật chu kỳ Định Luật Tuần Hoàn Huyền Cơ.
Chu Kỳ Định Luật Tuần Hoàn một tiểu kiếp. 16 triệu 8 trăm nghìn năm, được phân chia ra làm ba giai đoạn như sau.
Thượng Ngươn Thượng Kiếp, chia làm hai giai đoạn, cuối kiếp tăng bốn trăm nghìn năm, đầu kiếp giảm bốn trăm nghìn năm.
Trung Ngươn Thượng Kiếp, một triệu năm
Hạ Ngươn Mạt Pháp Thượng Kiếp, một triệu năm.
Thượng Ngươn Trung Kiếp, một triệu năm
Trung Ngươn Trung Kiếp, một triệu năm
Hạ Ngươn Mạt Pháp Trung Kiếp, một triệu năm
Thượng Ngươn Hạ Kiếp, một triệu năm
Trung Ngươn Hạ Kiếp, một triệu năm
Hạ Ngươn Mạt Pháp Hạ Kiếp, một triệu năm
Còn tính theo Chu Kỳ: Trong vòng một nghìn năm.
Thượng Ngươn Thánh Đức, Trung Ngơn Nhơn Đức, Hạ Ngươn Mạt Pháp.
Có nghĩa là:
Cơ Thượng Ngươn Thánh Đức kéo dài 333 năm.
Cơ Trung Ngơn Nhơn Đức kéo dài 333 năm.
Cơ Hạ Ngươn Mạt Pháp kéo dài 333 năm chu kỳ trong vòng một nghìn năm.
Nghìn năm nào cũng như nghìn năm nào tam Ngươn đều y như vậy. Thượng Ngươn, Trung Ngươn, Hạ Ngươn.
Khi ấy trong Pháp Hội có vị Tôn Sư Dương Nghệ từ chỗ ngồi đứng dậy chắp tay hướng về Chí Tôn Quốc Tổ thưa rằng:
Thưa Đức Chí Tôn Quốc Tổ: Sao gọi là Thượng Ngươn Thánh Đức, ai tạo ra Thượng Ngươn Thánh Đức. Sao gọi là Trung Ngơn Nhơn Đức, ai tạo ra Trung Ngơn Nhơn Đức, Sao gọi là Hạ Ngươn Mạt Pháp ai tạo ra Hạ Ngươn Mạt Pháp, xin Chí Tôn Quốc Tổ chỉ dạy cho.
Quốc Tổ khen rằng Ông quả là Thiện Nhân Trí Đức nên mới hỏi Ta những câu hỏi như vậy. Ta vì Ông mà giảng giải trả lời.
Nói đến Cơ vận Hóa, thời không có Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa nào làm ra cả. Mà do Bộ Máy Huyền Vi Càn Khôn Vũ Trụ luân chuyển theo phương vị ngũ hành luân phiên tạo ra theo Định Luật Thiên Ý.
Ví Dụ: Cơ vận hóa chuyển đến Đông thuộc Hành Thủy thời trời lạnh. Cơ vận hóa chuyển đến Xuân thuộc hành Mộc thời ôn hòa. Cơ vận hóa chuyển đến Hạ thời trời oi bức nóng nực. Cơ vận hóa chuyển đến Thu thời trời mát mẻ.
Cơ vận hóa Thiên Ý chuyển Xuân thời thiên hạ sống theo Xuân.
Cơ vận hóa Thiên Ý chuyển Hạ thời con người sống theo Hạ.
Cơ vận hóa Thiên Ý chuyển Thu thời con người sống theo Thu.
Cơ vận hóa Thiên Ý chuyển Đông thời con người sống theo cách sống mùa Đông.
Không mấy ai sống theo kiểu mùa Hạ.
Nói tóm lại: Chu kỳ của Ngươn, của Ngơn không phải do Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa tạo ra. Mà do Pháp Thân Tổ Tiên Đại Linh Hồn Vũ Trụ. Luân chuyển tạo ra chu kỳ Tuần Hoàn. Chu Kỳ một tiểu kiếp. Chu Kỳ một triệu năm. Chu Kỳ một nghìn năm. Mỗi Chu Kỳ đều theo định kỳ chuyển hóa phân định của Tạo Hóa Tổ Tiên.
Thời Kỳ đầu của mỗi chu kỳ, là chu kỳ Thượng Ngươn, hay Thượng Ngươn, chân khí Thuần Dương Hưng Thịnh. Nên phần đông con người hướng thiện theo Huyền Cơ Tạo Hóa Cha Ông. Những Linh Hồn hướng Thiện, hành Thiện sẽ được Pháp Thân Linh Giác tối cao vũ trụ luân chuyển siêu Sanh về các tầng trời cõi trời sanh sống hưởng phước theo luật tự nhiên, hễ hướng Thiện hành Thiện là tự mình độ cho chính mình, không cần ai đưa mình về trời, cũng được Pháp Thân Linh Giác Tối Cao Vũ Trụ luân chuyển về thiên đàng cực lạc, ai cũng như ai không ai khác ai, theo Định luật Tự Nhiên Vũ Trụ.
Để cho dễ hiểu của mỗi chu kỳ, như chu kỳ một nghìn năm chẳng hạn. Được phân chia làm ba giai đoạn, chu kỳ đầu của một nghìn năm, chu kỳ Thượng Ngươn Thánh Đức kéo dài 333 năm.
Ở vào thời kỳ nầy chân khí Chơn Dương Hưng Thịnh. Nên phần đông con người hướng thiện khế hiệp với chân khí Chơn Dương. Những Linh Hồn hướng Thiện hành Thiện sẽ được Pháp Thân Linh Giác tối cao vũ trụ luân chuyển siêu Sanh về các tầng trời cõi trời sanh sống hưởng phước, hễ hướng Thiện hành Thiện là tự mình độ cho chính mình, không cần ai đưa mình về trời, cũng được Pháp Thân Linh Giác Tối Cao Vũ Trụ luân chuyển về thiên đàng cực lạc, ai cũng như ai không ai khác ai, theo Định luật Tự Nhiên vũ trụ.
Hết chu kỳ Thượng Ngơn Thánh Đức, đến chu kỳ Trung Ngơn Nhơn Đức kéo dài 333 năm thời kỳ khí hóa Âm- Dương bình hòa là thời kỳ kế hiệp Đạo Con Người. Đầu đội Trời chân đạp đất Trung Dung, Trung Hòa Âm Dương, là thời kỳ Trung Ngơn Nhơn Đức. Những thập niên đầu phần đông con người, gần mực thời đen gần đèn thời sáng hễ gần Chính Pháp thời hành thiện siêu sanh về trời. hễ gần mực thời đen sa vào Ác Đạo con người hành ác sa đọa xuống các Tần Địa Phủ. Nói cho dễ hiểu, hễ hướng tâm theo ác hành ác thời Pháp Thân Linh Giác tối cao vũ trụ luân chuyển sa đọa xuống các Tần Địa Phủ chịu nhiều sự khốn khổ theo Định Luật Tự Nhiên Vũ Trụ.
Hễ hành Thiện thời Pháp Thân Linh Giác tối cao vũ trụ luân chuyển siêu Sanh về các tầng trời cõi trời sanh sống hưởng phước, không cần ai đưa mình về trời, cũng không ai có quyền đọa mình xuống các tầng Địa Phủ. Mà chính do mình hành ác bị Pháp Thân Linh Giác Thiên Ý Tối Cao Vũ Trụ luân chuyển về các tầng Địa Phủ, cũng như luân chuyển các Linh Hồn hành thiện siêu lên thiên đàng cực lạc, ai cũng như ai không ai khác ai, theo Định luật Tự Nhiên, Thiện Siêu, Ác Đọa.
Nhưng thập niên cuối Trung Ngơn Nhơn Đức con người phần đông ngả hẳn về ác, đi vào Hạ Ngươn Mạt Pháp.
Chu kỳ Hạ Ngươn Mạt Pháp kéo dài 333 năm, chân khí Âm Khí Hưng Thịnh. Nên phần đông con người xu thế hành ác hiệp với Âm Phí những chủ thuyết ác Đạo vì thế mà ra đời dẫn dắt con người đi vào ác đạo tàn sát lẫn nhau. Những Linh Hồn theo ác hành ác sẽ bị Pháp Thân Linh Giác tối cao vũ trụ luân chuyển sa đọa xuống các tầng Địa Phủ theo Định Luật Tự Nhiên khốn khổ vô biên. Hễ hướng ác hành ác là tự mình đọa mình chứ không phải nào ai khác. Bị Thiên Luật hành xử sa đọa theo Định Luật Tự Nhiên Vũ Trụ. Ai hành ác làm ác đều phải chịu chung số phận như nhau, không ai khác ai đều bị Thiên Luật Huyền Cơ xoay chuyển sa đọa xuống các Tầng Địa Phủ nhận lấy sự khốn khổ vô cùng.
Như vậy chu kỳ các Ngươn, các Ngơn, không phải là do ai đặc ra mà do Định Luật Thiên Ý luân chuyển theo chu kỳ Tuần Hoàn theo Luật Tự Nhiên, Định Luật Vũ Trụ. Trời Chuyển Xuân thiên hạ sống theo Xuân. Trời chuyển hạ thiên hạ sống theo Hạ. Trời chuyển đông thiên hạ sống theo Đông. Không ai ngăn cản hay làm chi khác được. Cũng như không ai có quyền đày Linh Hồn xuống Địa Phủ, cũng không ai có quyền đưa người lên Thiên Đàng. Tất cả đều do họ chính họ. Ai muốn sa đọa xuống các tần Địa Phủ. Thời phải làm ác hành ác. Ai muốn lên Thiên Đàng thời phải hướng thiện hành Thiện.
Không ai thoát khỏi Thiên Ý Định Luật Vũ Trụ Nhân nào Quả nấy. Không có kiểu làm ác hành ác rồi nhờ Ông nầy Bà nọ đưa Linh Hồn về trời. Họ muốn về Trời thời phải biết nghe lời Trời dạy lìa bỏ cái Ác đi vào cái Thiện. Nhất là quy hướng Cội Nguồn thời Pháp Thân Tối Cao Vũ Trụ Thiên Ý Định Luật luân chuyển những Linh Hồn hành Thiện ấy siêu sanh về Trời sống trên Thiên Đàng Cực Lạc.
Nơi Pháp Hội Thượng Viện Quốc Đạo ai nấy lắng nghe Quốc Tổ thuyết giảng cũng đều chứng ngộ Chu Kỳ Huyền Cơ Thượng Ngươn Thượng Kiếp. Trung Ngươn Thượng Kiếp. Hạ Ngươn Thượng Kiếp kéo hàng triệu năm. Thượng Ngươn Trung Kiếp. Trung Ngươn Trung Kiếp. Hạ Ngươn Trung Kiếp kéo dài hàng triệu năm. Thượng Ngươn Hạ Kiếp. Trung Ngươn Hạ Kiếp. Hạ Ngươn Mạt Pháp Hạ Kiếp kéo dài hàng triệu năm.
Chu Kỳ Huyền Cơ Thượng Ngươn Thánh Đức kéo dài 333 năm. Chu Kỳ Huyền Cơ Trung Ngơn Nhơn Đức kéo dài 333 năm. Chu Kỳ Hạ Ngươn Mạt Pháp kéo dài 333 năm, sự chuyển vận là do Định Luật Thiên Ý. Không phải do Phật, Thánh, Tiên, Thần Chúa. Cũng không ai có thể thoát khỏi Thiên Ý Định Luật Vũ Trụ. Làm Ác Hành Ác nhất định sa đọa xuống các Tầng Địa Phủ. Làm Thiện Hành Thiện nhất định siêu lên Thiên Đàng Cực Lạc hưởng phước sống an vui tự tại. Tự Mình Độ Cho Chính Mình Theo Lời Trời Dạy.
77. AI MỚI LÀ ĐẤNG TỐI CAO
Ở vào thời dựng nước nơi Thượng Viện Quốc Đạo, Quốc Tổ truyền dạy rằng. Văn Hóa Cội Nguồn. Văn, Kinh, Thơ, Triết, Truyện, không thể ra đời, chỉ truyền khẩu tự ngôn từ Ngôn Ngữ Văn Lang mà thôi. Chữ viết còn quá thô sơ nên không lưu chép lại được.
Các Vương, Quan, Tôn Sư, Đạo Sư, Pháp Sư, chú ý lắng nghe, nhớ nhiều chừng nào hay chừng đó, các Vương, Quan, Tôn Sư, Đạo Sư, Pháp Sư được quyền thưa hỏi những gì chưa rõ trong lòng. Ta vì Pháp Hội các Ông mà giảng giải.
Khi ấy nơi Pháp Hội có vị Đạo Sư Tịnh Giác từ chỗ ngồi đứng dậy chắp tay hướng về Chí Tôn Quốc Tổ thưa hỏi rằng.
Thưa Đức Chí Tôn Thiên Đế;
Nơi vũ trụ ai là Đấng Tối Cao?
Quốc Tổ khen rằng: Ông Thật là người khéo hỏi, làm sáng tỏ ai là Đấng Tối Cao. Với câu hỏi nầy Ông thành tựu vô lượng vô biên phước đức, Ta sẽ vì Ông mà nói.
Chí Tôn Quốc Tổ nói có một Đấng Tối Cao mà ai ai cũng phải đội trên đầu. Kể cả Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, khắp mười phương cũng như tam thiên đại thiên thế giới khắp. Các ông có biết Đấng ấy là ai Không?
Cả Pháp Hội đồng nói; Chúng con không biết xin Chí Tôn Quốc Tổ chỉ dạy cho.
Quốc Tổ truyền dạy rằng; Đấng Tối Cao Ấy không xa lạ gì với chúng ta cả vì lúc nào chúng ta cũng đội Đấng ấy trên đầu. Đó chính là Pháp Thân Linh Giác Khai Hóa Tổ Tiên, Đại Linh Hồn Vũ Trụ Cội Nguồn của tất cả muôn loài vạn vật trong đó có Nhân Loại con người.
Pháp Thân Khai Hóa Tổ Tiên, Đại Linh Hồn Vũ Trụ rộng lớn như hư không chỗ nào cũng có. Khai Tạo lập lên Tam thiên đại thiên thế giới, năm non bảy núi, nhật, nguyệt, tinh tú, thiên hà, ngân hà 28 tần trời 18 tần địa phủ, bảy biển hương thủy, bốn cõi trần gian, biển khí nước mặn, đều nằm trong lòng pháp thân Linh Giác Khai Hóa Tổ Tiên Đại Linh Hồn Vũ Trụ. Ví như các lớn cá nhỏ đều sống trong lòng nước. Cá nghĩ gì nước cũng biết, cá làm gì nước cũng hay, một niệm chưa khởi tưởng nói ra nước đều nghe, thấy, hay biết rõ.
Như vậy chúng Ta đã biết ai là Đấng Tối Cao Vũ Trụ. Chính là Khai Hóa Tổ Tiên hiện thân ra Cha Trời Mẹ Trời, Chánh Thân, Chánh Mẫu của nhân loại con người kể cả Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa khắp cả mười phương tam thiên đại thiên thế giới.
Cha Trời cai quản thế giới Linh Hồn chuyển hóa Linh Hồn, Tận Độ Linh Hồn, Cứu Khổ Linh Hồn những ai biết nương tựa Cội Nguồn. Không xa rời Cội Nguồn thường là những người gặp nhiều điều may mắn. Thường làm đâu được đó tai họa ít xảy ra, vì lúc nào cũng được bản thể Linh Giác Tổ Tiên, cũng chính là Bản Thể Linh Giác của Cha Trời chỗ nào cũng có che chở, và ban cho nhiều sự may mắn.
Những ai lạc Cội lạc Nguồn thường là những Linh Hồn lạc lõng bơ vơ không có sự che chở của Cha Trời. Thường là sa đọa vào Ác Đạo chịu nhiều sự khốn khổ vô biên.
Mẹ Trời cai quản thế giới Vật Chất, những ai ca ngợi Mẹ Trời Cha Trời thường là những người có uy quyền giàu sang bậc nhất, vinh hoa phú quý tột cùng. Ở đời ai cũng biết Mưu Sự Tại Nhơn, Thành Sự Do Thiên. Những mưu sự trái ngược lại Thiên Ý thường là dẫn đến thất bại làm nhiều mà chẳng được là bao. Mưu Sự Hợp Thiên, thường làm đâu được đó, bỏ công sức ít mà thành tựu nhiều.
Quốc Tổ nói: Như vậy các Ông cũng đã rõ nơi vũ trụ ai là người có quyền năng nhất.
Cả Pháp Hội đồng nói người có quyền năng nhất vũ trụ chính là Cha Trời Mẹ Trời.
Quốc Tổ nói: Đúng Vậy đúng vậy không ai có quyền năng hơn Cha Trời Mẹ Trời. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa phải nương tựa vào Cội Nguồn Cha Trời Mẹ Trời mới thanh tựu được phước báo vô tận, quyền lực vô biên.
Quốc Tổ nói: Nơi vũ trụ ai là người giàu nhất?
Cả Pháp Hội đồng nói, không ai giàu hơn Cha Trời Mẹ Trời Đấng Tạo lập lên tất cả cũng như cai quản toàn vũ trụ.
Quốc Tổ nói: Đúng vậy đúng vậy vì thế Cha Mẹ giàu thời con cái thừa hưởng. Những ai trở về Cội Nguồn Tôn thờ Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời, chính thức trở thành con Trời. Sẽ được ba ngôi tối cao vũ trụ Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời bảo bọc chở che Đại Phú do Thiên.
Trời sẽ ban cho những gì mà Trời đã tạo ra. Như làm chủ tam thiên đại thiên thế giới, làm chủ 28 tầng trời, làm chủ hạ thiên vũ trụ năm non bảy núi, Thất Sơn Châu Báu, làm chủ Nhật, Nguyệt, Tinh, Tú, Thiên Hà, Ngân Hà, làm chủ bảy biển Hương Thủy, làm chủ bốn cõi Trần Gian, làm chủ Ngũ Đại Chuyên Luân, làm chủ vàng, bạc kim cương, ngọc ngà châu báu, sắt, thép, kẽm, chì, nhôm, nhựa, đồng, thau, làm chủ cai quản 18 tầng Địa Phủ.
Ban cho những ai biết Tôn Thờ Nguồn Cội cõi nước ngọc ngà châu báu làm Vua làm Chúa các cõi nước trời. Trường sanh bất tử an vui tự tại vân.v.. Trời muốn cho ai thời người ấy hưởng.
Quốc Tổ nói: Những ai rời bỏ Cội Nguồn không tôn thờ ba ngôi tối cao vũ trụ, thường hay nghịch Thiên Ý làm nhiều điều ác trái ngược Lương Tâm. Phải chịu sa đọa vào tam đồ khổ Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh. Nếu may mắn đầu thai trở lại làm người, thời phải chịu sự tật nguyền, nếu không tật nguyền thời chịu sự thấp hèn nghèo khổ, cũng như tai họa triền miên.
Cả pháp hội nghe Quốc Tổ giảng dạy như vậy liền giác ngộ cây còn Gốc nở cành xanh ngọn, người không mất Cội Nguồn, người tốt đẹp biết bao đồng niệm Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời. Hướng về Cội Nguồn Nam Mô – A Men thành tựu vô lượng vô biên công đức, chính thức con Trời, thừa kế những gì Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời để lại tạo ra. Nói chung là làm chủ Vũ Trụ. Nhất là làm chủ Thiên Đàng Cực Lạc, muốn gì được nấy an vui tự tại.
78. LINH VỊ THỜ TRỜI
Ngày xửa ngày xưa ở vào thời Thượng Hùng Vương, đến đời Hùng Cao Lang Quốc Vương đời thứ 6 trị vì thiên hạ.
Ở vùng Giao Châu có một chàng trai tên là Đơn Côi. Cha mất sớm Mẹ có chồng khác, không còn ai thân thích bên nội Đơn Côi phải đành theo Mẹ về ở với Bố Ghẻ tên là Tàn Bạo. Tàn Bạo tánh tình hung dữ coi mẹ con Đơn Côi như tôi tớ thẳng tay mà đánh.
Ngoài làm mấy sào ruộng ra Tàn Bạo thường bắt Đơn Côi lên rừng đốn củi, còn Tàn Bạo thời ở nhà đem củi ra chợ bán. Cha ghẻ thời no cơm ấm áo còn mẹ con Đơn Côi thời bửa đói bửa no.
Không may gặp năm trời làm mất mùa, cuộc sống gặp lúc khó khăn cho cái ăn cái mặc. Tàn Bạo nhìn Đơn Côi như nhìn một gánh nặng, đôi lúc muốn vứt đi cho rồi nhưng vứt đi bằng cách nào Tàn Bạo chưa nghĩ ra.
Cho đến một hôm Tàn Bạo dẫn Đơn Côi lên rừng đốn củi, viện lý do rừng núi ở đây nhà nước quản lý cấm đốn củi nên dẫn Đơn Côi đi rất xa. Tàn Bạo nói đốn củi xong ngồi đây đợi ta đến rồi cùng về.
Đơn Côi chặt xong hai bó củi ngồi đợi Cha Ghẻ đến rồi về chờ chờ mãi không thấy người Cha Ghẻ đến, mặt trời sắp lặn non tây. Đơn Côi kinh hãi không biết chuyện gì xảy ra bằng đi tìm người Cha Ghẻ Tàn Bạo, tìm khắp nơi nhưng không thấy người Cha Ghẻ đâu cả. Chỉ thấy một ngôi miếu đá trong đó không có ai, chỉ có một Linh Vị hình quả tim có họa hình thập tự giá. Đơn Côi không biết là Linh Vị thờ ai.
Mặt trời đã lặn màn đêm buông xuống nhìn nơi đâu cũng thấy chập chờn sự rình mò ăn nuốt, tiếng hổ gầm rung chuyển núi non, tiếng sói, beo, tru lên nghe thấy mà rởn óc. Đơn Côi sợ quá bằng chui vào Am Đá để trốn. Nào ngờ bầy hổ đánh hơi tìm tới chúng nhe nanh, múa vuốt thấy mà phát khiếp, một con hổ định vồ Đơn Côi. Nhưng con hổ hốt hoảng khiếp sợ bỏ đi con nào nhìn thấy Linh Vị cũng vậy đều sợ hãi bỏ đi.
Đơn Côi sợ quá ngất đi hồi nào không biết đến khi tỉnh dậy thời Ông Mặt Trời đã lên cao.
Đơn Côi thấy mình còn sống mừng quá la lên ta còn sống, Đơn Côi nghĩ đàn cọp tha cho mình sao, chuyện gì đã xảy ra, Đơn Côi hồi tưởng lại tất cả như chợt nhớ ra linh vị quả tim trong lúc mình không biết gì nữa thời thấy Linh Vị Quả Tim Thập Tự Giá phát tỏa hào quang có lẽ đàn cọp sợ Linh Vị nầy.
Đơn Côi không biết ý nghĩa thờ Linh Vị Quả Tim Thập Tự Giá là thờ ai mà Linh Hiển như thế. Bằng cầm lấy Linh Vị Quả Tim Thập Tự Giá làm bùa hộ mạng không sợ đàn hổ ăn thịt nữa. Đơn Côi đi đi mãi nơi đâu cũng là rừng núi khác thời uống nước suối, đói thời ăn lá cây hoa quả, tối thời ngủ trên cây cứ như thế mười ngày đã trôi qua mà cũng chưa tìm được đường về.
Nói về người bố ghẻ ác độc dẫn Đơn Côi vào núi sâu rừng thẳm làm mồi cho cọp, còn mình thời trở về nhà không may trên đường đi gần đến nhà thời bị rắn cắn, nhưng hắn ráng chịu đau lê lết cái chân sưng tím vừa về đến sân thời hắn gào thê thảm ngã quỵ xuống sân lăn đùng ra chết.
Sau khi chôn cất người chồng sau Mẹ Đơn Côi khóc lóc kể lể cả tháng, đôi lúc ngồi một mình nhớ đến Đơn Côi có lẽ bị hổ báo ăn thịt rồi, trời ơi là trời sao đời tôi khốn khổ thế nầy. Người chồng trước chết bỏ tôi ở lại một mình, tuổi còn trẻ đường đời còn dài nỗi cô đơn không nơi nương tựa, đi thêm bước nữa nương nhờ cây tùng cây bách, nào hay đâu không khác gì đầy tớ. Tuy thế không trách gì ông chồng an phận chí thú làm ăn, tuy đời sống khó khăn nhưng thuyền có lái, nhà có nóc, nay Ông ấy đã chết thời tôi biết trông cậy vào ai. Còn đứa con thời biệt tăm vô âm tín không biết chết sống ra sao.
Lại nói về Đơn Côi cuối cùng cũng tìm được về nhà nhìn thấy mẹ ngồi ngoài xó hè gầy ốm trông có vẻ hốc hác ôm mặt than khóc kể lể mới hay người Cha ác độc đã chết.
Đơn Côi cũng không cầm được giọt nước mắt, dù sao cũng là người Cha kế của mình. Mẹ Đơn Côi đang ngồi than thở cho số phận của mình chợt nhìn thấy Đơn Côi trở về lao nhanh tới ôm Đơn Côi như sợ Đơn Côi biến mất, miệng thời nói con của Mẹ con sống cảm ơn Ông Trời. Bà nhìn Đơn Côi tuy hơi ốm nhưng thần khí vẫn tươi tốt. Hai mẹ con đi vào nhà, bà như muốn biết chuyện gì đã xảy ra với Đơn Côi liền hỏi.
Con đi đâu hơn cả tháng mới trở về. Đơn Côi liền kể lại tất cả đầu đuôi, Đơn Côi thở dài nói người Cha Ghẻ muốn giết con cho đở tốn cơm nên dẫn con đến một nơi rất xa núi non trùng điệp rừng rậm bạt ngàn, nơi có cọp, beo, sói, bỏ con ở lại đó một mình làm mồi cho cọp, sói, báo. Cũng may con nhờ Linh Vị nầy cứu mạng. Bà mẹ Đơn Côi nghe xong không cầm được nước mắt nói mẹ đã hại con. Mẹ thề không đi bước nữa dù cho khổ đến đâu cũng ở vậy cùng con. Bà nhìn Linh Vị cứu Đơn Côi là một miếng gỗ hình Quả Tim có chạm khắc hình Thập Tự Giá, có những nốt tròn, nhất là nốt tròn ở dưới chót quả tim, có hình vuông. Bà thường nghe Cha Mẹ Ông Bà kể Trời Tròn, Đất Vuông. Bà chỉ hiểu có vậy thôi còn không hiểu gì nữa.
Từ khi Đơn Côi lập bàn thờ để thờ Linh Vị thời Đơn Côi trở nên thông minh khác thường khỏe mạnh hẳn ra, làm đâu được đó tính gì được nấy không bao lâu thời dư ăn dư để không nói là giàu. Xóm làng ai cũng khen là tài giỏi tiếng đồn xa đến tai Quan Phủ. Phong cho chức Lạc Điền quyền thế một vùng Giao Châu.
Một hôm Đơn Côi gặp một Đạo Sĩ thời vô cùng mừng rỡ mời về nhà. Đạo Sĩ nhìn khu vườn rộng nhưng địa cuộc thời không được tốt ai ở khu vườn nầy thời phải chịu cảnh nghèo đói. Thế mà Đơn Côi giàu có nhà cửa bề thế lấy làm lạ hỏi Ông Bà Cha Mẹ có tu phước thiện gì không? Đơn Côi nói không có chỉ là người bình thường không nói là không mấy thiện. Vị Đạo Sĩ làm thinh không nói gì. Đơn Côi nói tôi mời Đạo Sĩ là nhờ Đạo Sĩ xem cho tôi một quẻ không hiểu vì sao công chuyện làm ăn thời trôi chảy nhưng đường vợ con thời trắc trở liên miên.
Đạo Sĩ nghe xong nói dẫn tôi đến nơi bàn thờ Ông Bà Cha Mẹ để tôi làm phép thời quẻ mới ứng linh, Đơn Côi liền dẫn Đạo Sĩ đến bàn thờ, thờ Linh Vị. Đạo Sĩ vừa nhìn thấy Linh Vị Hình Quả Tim có chạm khắc Thập Tự Giá, có nhiều nốt tròn cũng như hình chữ S cốt lõi Âm Dương. Trời tròn Đất vuông thời giật cả mình, Linh Vị nầy không phải Linh Vị thờ Trời sao? Đạo Sĩ hỏi quan Lạc Điền làm sao có được Linh Vị nầy. Không lẽ Ông Bà để lại, Đơn Côi kể lại tất cả Linh Vị nầy là tôi thỉnh ở nơi miếu đá trên núi, cũng như những sự Linh Thiên đã xảy ra.
Đạo Sĩ nghe xong ngẫm nghĩ thảo nào ở khu vườn tử địa mà vẫn bình yên lại giàu có, là do Linh Vị thờ Trời nầy. Đạo Sĩ nói Linh Vị nầy là Linh Vị thờ Trời. Có lẽ các vị Tu Tiên lập lên để thờ, người trần phàm không ai có thể hiểu được.
Đạo Sĩ hỏi quan có biết ý nghĩa của Linh Vị kia không? Đơn Côi nói tôi không rõ.
Đạo Sĩ nói Linh Vị nầy chính là biểu tượng Nam Mô- A Men Linh Ấn Vũ Trụ Uy Danh Của Đức Cha Trời. Linh vị nầy không những linh thiêng mà còn làm cho gia chủ thông minh, muốn gì được nấy. Nhưng Gia Chủ ở khu vườn không được tốt có thể nói là khu vườn tuyệt hậu. Muốn có vợ con suông sẻ thời phải tìm mua một khu vườn khác. Mẹ đơn Côi nói tôi có một khu vườn cũ nhỏ hơn khu vườn nầy, khu vườn đời chồng trước của tôi.
Mẹ Đơn Côi dẫn vị Đạo Sĩ đến xem. Đạo Sĩ nhìn khu vườn bỏ hoang nhưng lại là khu vườn đắc địa phong thủy rất tốt. Không nơi nào tốt bằng nơi nầy hãy về đây mà ở thời con cháu đầy nhà.
Trước khi từ giả Đơn Côi Đạo Sĩ để lại bài thơ
Thờ Trời phước đức, chuyện bình thường
Nghịch Trời, tai họa khó nghĩ lường
Chỉ cần thất kính bằng sợi tóc
Chúa Vua cũng phải, chịu tang thương
Thành tâm quy kính, nương Cội Gốc
Còn hơn châu báu, chất đầy rương
Linh Vị thờ Trời, Linh đệ nhất
Vạn kiếp nghìn đời trổ hoa hương
Đơn Côi nhìn theo Đạo Sĩ khuất dần khuất dần trên đường đi lòng cảm thấy bâng khuâng như rời xa người thân. Đơn Côi dời nhà đến nơi chôn nhau cắt rốn quê Cha nơi sanh ra mình. Từ đó Đơn Côi cưới được một cô vợ xinh đẹp con đàn cháu đống sống cuộc đời an vui hạnh phúc.
79. SO TÀI – ĐẤU PHÉP
Ngày xửa ngày xưa có một đất nước tên là Vạn Xuân, nhưng thật ra chẳng có chút xuân nào. Bởi một tên Vua độc tài độc trị tôn thờ ngoại bang, coi dân như cỏ rác thi hành nhiều chính sách bạo ngược làm cho dân căm hận đến tận xương.
Nơi vùng Tô Châu có một gia đình không may Ông Bà mất sớm chỉ còn lại người con duy nhất tên là Kỳ Nhân vì miếng ăn Kỳ Nhân quần quật suốt ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời không có được một ngày rảnh thế mà sự khốn khó mãi đeo bám, bao nỗi bất công cứ mãi đeo theo. Với chính sách hà khắc không có việc ác nào mà không làm. Nhất là quan các cấp cơ sở địa phương không những vừa ngu vừa tàn bạo.
Kỳ Nhân từ nhỏ vốn đã thông minh, càng lớn càng thông minh một cách kỳ lạ phải nói ít ai sánh bằng. Nhất là đối đáp tài tình hóa giải tất cả những lời buộc tội của đối phương.
Kỳ Nhân thấy nước Vạn Xuân cứ mãi lao đao khốn khó nguyên nhân là chạy theo ngoại bang tôn thờ ngoại bang, dẫn đến cây mất Gốc héo cành rũ ngọn, Kỳ Nhân không thể lặng im chịu cảnh mất nước nhà tan, bằng thức tỉnh dân chúng Vạn Xuân yêu Cội mến Nguồn tôn thờ truyền thống. Dân Vạn Xuân thấy Kỳ Nhân nói phải nên theo nghe mỗi ngày mỗi đông.
Nói về các cấp địa phương thấy dân chúng càng ngày càng mến mộ Kỳ Nhân, tức thời mời lên cơ quan hãm hại nhổ phứt cây gai trong mắt, với giáo điều chính sách độc tài độc trị chỉ tôn thờ duy nhất một thể chế dù đó là thể chế tôn thờ ngoại bang không được tôn thờ bất cứ ai.
Vào hôm ấy trời đang trong xanh bỗng mây đen hiện ra che kín bầu trời, báo hiệu điềm chẳng lành sắp xảy ra
Kỳ Nhân nhận được giấy triệu tập mời lên cơ quan, bạn bè Kỳ Nhân lấy làm kinh sợ, Kỳ Nhân nói có gì phải sợ khi mình hướng về Nguồn Cội tôn thờ Ông Cha.
Ở địa phương xưa nay ai cũng biết quan bây giờ không phải là quan vì nước vì dân mà vì tiền vì lợi vì bè đảng, đầy thủ đoạn gian manh.
Kỳ Nhân được giấy triệu tập tâm hồn định tĩnh như không có chuyện gì xảy ra nghĩ thầm không ngờ mình có giá béo bở như thế, có lẽ mình đã tu vô lượng kiếp chúng tranh nhau mà táp. Nếu có chết cũng phải ăn một bữa thật no, tội gì chết đói.
Nói về những tay chuyên nghiệp xét hỏi tên nào tên nấy nanh vuốt dài thoàng súng ống đao kiếm sáng ngời. Nhất là mưu mô xảo quyệt đạt đến cảnh siêu đẳng thậm thâm, chỉ cần phun ra một lời, nhẹ thời cũng phải đi tù, nặng thời bỏ mạng, nhất là Tên Cáo quan địa phương nổi tiếng xưa nay là tay sát thủ chưa ai thoát khỏi nanh vuột của tên Cáo quan địa phương nầy.
Vừa đến cơ quan thật bất ngờ Kỳ Nhân thấy dân chúng có mặt rất đông, cũng như đủ các phần ngành trong huyện, trước khi chúng muốn hại một ai đó thường là đi đến đóng tuồng đấu tố hãm hại, hoặc buộc tội trước công chúng làm gương thị chúng làm cho dân chúng khiếp sợ. Chúng tin tưởng là chúng ghép tội cho Kỳ Nhân một cách dễ dàng trước dân chúng. Chúng ung dung Kỳ Nhân là con mồi chỉ biết cúi đầu nhận tội, như bao người khác, nồi nước sôi đã sôi sùng sục chúng chỉ cần ném con gà vào nồi là xong.
Với bộ mặt ác quỷ xảo trá lão luyện khi ra đòn của Cáo quan, xưa nay khi Cáo quan ra đòn thời con chim bay trên trời cũng phải rớt xuống. con cá lặng dưới sâu cũng phải toi mạng đi đời.
Cáo quan nhìn Kỳ Nhân với bộ mặt ăn tươi nuốt sống nói với dân chúng xưa nay không một tội phạm nào có thể lọt lưới. Cáo quan ra chiều đắc ý xưa nay mọi chuyện, trắng Cáo hóa thành đen, không tội Cáo biến thành có tội như trở bàn tay. Chúng nào ngờ mọi chuyện ngoài sự dự định của chúng.
Hắn làm ra vẻ kính trọng nhìn con heo trước khi bị thọc cổ. Hắn nói mời Ông Kỳ Nhân ngồi. Kỳ nhân vừa ngồi hắn liền ra chiêu phóng chưởng ra đòn.
Nầy Ông Kỳ Nhân Ông biết tội chưa Ông Kỳ Nhân, với chiêu chưởng buộc tội nầy nhất định con cừu non bị trúng chưởng đi tiêu. Kỳ Nhân nói thưa quan trên cái tội quên Cội quên Nguồn thật đáng ăn đòn, tôi rất ăn năn hối hận vì tôn thờ Cha Ông có công dựng nước cũng như tôn thờ những người có công giữ nước quá muộn. Đáng lý ra tôi phải tôn thờ sớm hơn nữa.
Tên Cáo quan bất ngờ với lối trả lời Kỳ Nhân hóa giải độc chưởng của y như vậy. Tên Cáo quan không còn trầm tĩnh hùng hổ quát lớn ta đang hỏi chuyện khác sao ngươi lại nói chuyện nầy.
Kỳ Nhân bình tỉnh trả lời chuyện khác là chuyện nào tôi không rõ. Tôi chỉ biết tôi đang tôn thờ Cội Nguồn Ông Cha mà thôi. Cáo quan bị một đòn giáng trả cứng họng.
Thấy Cáo quan thua lý. Báo quan nhảy vào ra đòn những cú đấm hắn cho là tuyệt vời. Ai khiến ông làm điều nầy?
Kỳ Nhân nói, chuyện tôn thờ Nguồn Cội Cha Ông, nhớ ơn những tiền nhân giữ gìn đất nước ai khiến mới làm hay sao, phải tự Lương Tâm của mình có bổn phận trách nhiệm tôn thờ gìn giữ truyền lại cho con cháu. Quan hỏi như thế thời quan là người ngoại quốc không phải là người Vạn Xuân mới hỏi tôi câu hỏi vừa kém hiểu biết vừa ngớ ngẩn chẳng hiểu gì về bổn phận và trách nhiệm của mỗi ngời dân Vạn Xuân đối với Ông Cha đối với non sông đất nước.
Báo quan bị Kỳ Nhân phản đòn tới tấp đòn nào đòn nấy trúng phốc không sai một ly, Báo Quan đỏ mặt hét lớn định chém cho Kỳ Nhân một đao gở gạt chút đỉnh vì mất mặt trước dân chúng.
Beo quan cản lại nói để tôi. Beo quan nhìn Kỳ Nhân như nhìn một đối thủ đáng gườm, múa chân múa tay đi tới đi lui rồi tung ra một đòn chí tử ai cho phép ông tuyên truyền lôi kéo dân chúng làm mất trật tự an ninh xã hội? Với chiêu quỷ trảo nầy đối thủ khó mà chống đỡ chỉ còn chờ chết mà thôi.
Kỳ Nhân nhờ tu luyện chiêu Trung Can Hiếu Nghĩa cao trở thành mình đồng da sắt, nói thờ cội thờ Nguồn thời ai có quyền ngăn cấm cần chi cho phép ai cũng có bổn phận trách nhiệm đối với Cha Ông đối với những người có công dựng nước, giữ nước. Uống nước nhớ Nguồn ăn quả nhớ người trồng cây. Tôi cũng thế mà quan cũng thế đều là con cháu Vạn Xuân không lẽ làm dân như tôi lại nhớ, còn làm quan như quan lại quên không có bổn phận trách nhiệm gì đối với Cha Ông. Ông Cha ta thường nói với hạng người quên Tổ, quên Tiên, bất nhân, nghĩa, bất trung, bất hiếu, là người không có đức. Cổ nhân thường dạy người không có đức còn thua cục cứt bỏ cho cây. Dân chúng cười ô lên hay quá, lối phản đòn thật là hấp dẫn.
Beo quan định rút súng ra bắn, Heo quan cản lại nói để đó cho tôi. Heo Quan ủn ỉn sờ cái bụng phệ của mình bốc mùi rượu bia thịt quay gà nướng hích hai lỗ mũi lên trời như lấy sức bất ngờ tung đòn sấm sét. Ai cho phép ông cấu kết với những thành phần xấu, cũng như lôi kéo dân chúng đi theo con đường mê tín, chống phá lại nhà nước chính quyền, ông còn gì để nói nữa không. Với lời buộc tội nầy thời Kỳ Nhân coi như con cá đã nằm trên thớt chỉ cần ấn nhẹ con dao là rồi đời hồn du địa phủ.
Kỳ Nhân bình tỉnh trả lời chẳng cần né tránh ăn miếng trả miếng chưởng đối chưởng nhìn Heo Quan rồi nói. Tin theo chủ trương, làm theo chủ trương nhà nước, quan hệ mật thiết với trung ương ủng hộ những người có tâm vì đất nước làm như thế là cấu kết với những thành phần xấu hay sao? Đoàn kết dân tộc giúp đỡ cùng nhau vượt qua gian khổ, lá lành đùm bọc lá rách, nhường cơm xẻ áo trong lúc gặp khó khăn, tắt lửa tối đèn tình làng nghĩa xóm, bầu thương lấy bí sự quan hệ như thế có tội gì?
Đồng cùng một dân tộc Vạn Xuân đồng hướng về Cội Nguồn tôn thờ Cha Ông nhắc nhở nhau phải có trách nhiệm bổn phận gìn giữ những gì tốt đẹp nhất của Dân Tộc Vạn Xuân, làm như thế mà lôi kéo chúng dân vào con đường mê tín sao?
Không có cán bộ nào trả lời Kỳ Nhân nói tiếp đã là người dân sống theo Hiến Pháp, Pháp Luật, những gì Hiến Pháp, Pháp Luật không cấm thời người dân có quyền làm, Huống chi là Hiến Pháp, Pháp Luật cho phép. Người dân có quyền tham gia phản biện những gì đúng sai cũng như cống hiến những gì tốt đẹp cho nhà nước, làm như vậy là chống phá nhà nước hay sao?
Làm theo Trung Ương mà là xấu, theo chủ trương nhà nước mà là sai.
Người phạm tội không phải là tôi mà chính là các Ông, không coi chủ trương ra gì, xem thường Hiến Pháp, coi thường Luật Pháp hành sự ngược lại chính sách của Nhà nước. Theo kiểu phép Vua thua lệ làng, muốn làm gì thời làm. Độc tài theo kiểu thời Phong Kiến, muốn ai sống thời sống, muốn ai chết thời chết, cậy chức cậy quyền quan là trên hết muốn hại ai thời hại.
Đã là người dân Vạn Xuân thời mỗi người dân có bổn phận tôn thờ Nguồn Cội cũng như có trách nhiệm đối với quê hương đất nước, người dân có tôn thờ gì tôi đâu chẳng qua họ đến với tôi là vì họ muốn nghe những gì tốt đẹp của Ông Cha Họ. Tôi thấy họ có Nhân, có Nghĩa, có Trung, có Hiếu đâu như những thứ tôn thờ ngoại bang, bất Nhân, bất Nghĩa, bất Trung, Bất Hiếu. đối vối Cội Nguồn Cha Ông của mình.
Những kẻ có tội không phải là tôi, mà là những kẻ phản bội Ông Cha ngăn cản không cho người dân hướng về Cội Nguồn. Trù dập tấm lòng tốt của người dân có bổn phận và trách nhiệm đối với quê hương non sông đất nước kẻ có tội chính là các Ông, không phải là Tôi. Tôi cũng như bao nhiêu người dân luôn hướng về Cội Nguồn tôn thờ Cội Nguồn những người có công dựng nước giữ nước, đó là bổn phận và trách nhiệm của người dân Vạn Xuân, kế thừa những gì tốt đẹp của Cha Ông để lại, phát huy và gìn giữ. Tôi thừa nhận là dân chúng có mến mộ đức độ của tôi, ca ngợi sự hiểu biết của tôi. Nhưng họ không đi theo tôi, mà đi theo chủ trương của nhà nước hướng về Nguồn Cội ca ngợi Truyền Thống Anh Linh dựng nước giữ nước.
Dân tôn thờ Nguồn Cội dân có tội gì, dân mến mộ người có tài có đức không lẽ là dân làm sai. Tóm lại người có tội là người vi phạm Hiến Pháp, Luật Pháp, đi ngược lại chủ trương của nhà nước, cậy chức ỷ quyền muốn làm gì thời làm không phải là tôi. Kỳ Nhân với những tuyệt chiêu ra đòn hùng hồn cú nào cú nấy lả lướt.
Mẻ lưới của tên Heo quan lão luyện bủa ra đã bị Kỳ Nhân xét nát còn ghép chúng vào tội phản bội lại Cha Ông, đi ngược lại chủ trương tội chồng lên tội, hơn mười tên quan ngơ ngác. Dân Chúng thời vui mừng tài quá như mở cờ trong bụng nhưng chẳng ai dám hở môi.
Với tài nghiệp vụ mấy mươi năm không lẽ thua Kỳ Nhân nhất là mất mặt trước dân chúng, Cáo quan, Báo quan, Beo quan, Heo Quan, nhìn Sói quan. Sói quan như hiểu ý bằng ra nói để đó cho cấp trên bằng ra đòn tung mẻ lưới ngón nghề điêu luyện hơn mấy mươi năm luyện tập trong nghề chưa có lần nào là con mồi thoát khỏi.
Nầy Ông Kỳ Nhân ông nói dân mến mộ đức độ của Ông, đức độ của Ông là cái gì mà dân mến mộ, Ông nên thành khẩn khai thật ra đây. Dân chúng nín thở không biết Kỳ Nhân trả lời thế nào, thoát khỏi mẻ lưới của bọn tà quan ác bá, lắm thủ đoạn nhiều mưu kế. Cọng với nanh vuốt dài thoàng nhọn hoắt thấy mà khiếp vía.
Kỳ Nhân trả lời Ông Cha ta thường dạy uống nước nhớ Nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, nên tôi lúc nào cũng tôn thờ Ông Cha, ca ngợi Ông Cha, nên dân cảm mến tôi. Ông Cha ta thường dạy sức yếu thời làm việc nhỏ miễn là có ích cho đời cho xã hội. Trước kia tôi thấy mẻ chai giữa đường tôi không bao giờ lượm, nhưng nay thời lại khác tôi không những lượm mẻ chai bỏ đi mà con khuyên những người khác lượm bỏ đi. Trước đây tôi không biết kính trọng người già nhưng từ khi tìm hiểu qua lịch sử Ông Cha học theo gương sáng Ông Cha, tôn kính người già, nhường đường cho người già đi nếu đó là con đường nhỏ. Trước đây tôi ít đóng góp ngày công cho xã hội, nay thời tôi hăng hái xung phong đi đầu. Xưa kia tôi hay nói láo đâm thọc thêu diệt, nhưng nay tôi nói cái gì cũng thật, nói lời có ích cho xã hội, Kỳ Nhân kể hết chuyện làm lành nầy đến chuyện làm lành khác. Bầy ác quan nghe như sấm sét đánh xuống đầu.
Có lẽ Sói quan chịu không nổi vỗ xuống bàn cái rầm thịnh nộ quát Ông khai kiểu gì lạ vậy khai như thế làm sao xét xử. Kỳ Nhân trầm tỉnh trả lời quan biểu tôi thành thật khai ra đức độ của tôi, tôi đã khai đúng những gì tôi đã làm cũng như quan đã hỏi.
Sói quan tức điên lên rút súng ra định bắn. Kỳ Nhân nhìn khẩu súng nói tôi cũng muốn chết từ lâu. Không lẽ nhảy xuống sông tự tử thời bị thiên hạ cho là ngu, còn uống thuốc độc tự tử thiên hạ cho là dại, tự mình đập đầu chết thiên hạ cho là điên. Nên tôi luôn nghĩ đến cái chết như thế nào là chết xứng đáng, chết tuyệt vời nhất. Chính là cái chết vì Cha Ông, chết vì làm lành, chết để rồi được hiển Thánh, người tu ai chẳng mơ ước như thế. Bây giờ không chết thời già cũng chết, quan cứ ra tay. Quan cứ nổ súng.
Mười mấy tên quan ai nấy cũng lấy làm kinh dị. Những tên ác quan xầm xì bàn tán với nhau rồi đi đến kết luận chưa kết tội được thời tạm tha, khi nào có kế mới thời mời đến làm việc. Dân chúng thở phào nhẹ nhỏm qua khỏi kiếp nạn rồi thật tội nghiệp cho Kỳ Nhân sanh ra nhằm thời Mạc Pháp bè phái tranh nhau cai trị đất nước theo ngoại bang không mấy ai vì dân vì nước mới sản sanh bọn ác quan. Cáo quan, Báo quan, Beo quan, Heo quan, Sói quan.
Nói về Kỳ Nhân trở về nhà bạn bè đến thăm hỏi nói, Nhân thoát khỏi nanh vuốt của chúng là phước ba đời xưa nay chưa có ai thoát được đâu.
Kỳ Nhân nói chế độ nào đi theo ngoại bang, thường hay nói đến chuyện yêu nước thương dân, ca ngợi truyền thống ông cha, che đậy sự phi nghĩa của mình.
Những gì Chế Độ nói, Chế Độ không làm thời mình làm. Ví Dụ Chế Độ Nhà Nước ca ngợi Cha Ông nhưng không tôn thờ Cha Ông. Còn Mình thời tôn thờ Ông Cha bọn ác quan chống phá mình có nghĩa là chống lại Nhà Nước chống lại chủ trương. Bất lợi thuộc về bọn ác quan không phải là tớ. Nên tớ mới thoát được nanh vuốt của chúng.
Bạn bè nói ai bày cho Nhân những đối kháng hay như vậy. Kỳ Nhân nói không ai bày cả mình là người Vạn Xuân, phải có bổn phận và trách nhiệm tôn thờ Nguồn Cội Cha Ông, yêu mến truyền thống anh linh dựng nước giữ nước.
Chỉ có Nguồn Cội Cha Ông là muôn năm, truyền thống anh linh dựng nước giữ nước muôn năm, còn những Chế Độ Thể Chế chỉ là nhất thời. Nhất là Chế Độ Thể Chế tôn thờ ngoại bang chỉ là chế độ thời vụ theo mùa nhanh chóng sẽ đi qua, hết đông, rồi sang xuân. Cách mạng mùa chỉ là sân khấu trường đời, khói mây rồi cũng trở về khói mây. Lời nói của Kỳ Nhân làm cho một số bạn thức tỉnh nguyện đi theo con đường của kỳ Nhân trở thành người Công Dân tốt của đất nước Vạn Xuân.
80. CÂU CHUYỆN TÌNH YÊU VÀ HẠNH PHÚC
Cô Giáo Đào cái tên thật thân quen cũng như sự kính mến những em học lớp 12 thị xã Tịnh Hà.
Cô Giáo Đào thường ngồi trầm lặng không hiểu cô đang nghĩ gì, chỉ thấy Cô chăm chú nhìn những em học sinh với lứa tuổi đi vào trưởng thành đang cặm cụi viết bài. Cô cảm thấy lòng mình hạnh phúc vì đã làm một nghề có ích cho đời, nhất là truyền cho các em những kiến thức tinh hoa xã hội. Những gì có lợi cho cuộc sống cũng như đem lại hạnh phúc cho chính bản thân mình. Cô Giáo nhìn các em hầu như các em đã viết xong bài Cô liền nói, để làm rõ thêm nội dung trong bài học hôm nay Cô sẽ kể về mẩu chuyện tình yêu và hạnh phúc cho các em nghe, cả lớp reo lên chúng em rất thích nghe Cô kể chuyện.
Cô Giáo Đào kể rằng:
Câu chuyện cách đây không lâu nơi đền thờ Mẫu Mẹ Âu Cơ có vị Tôn Sư tên là Nhân Duyên, nhiều cặp vợ chồng đến dâng hương cúng Mẹ cũng như nhờ Tôn Sư Nhân Duyên làm lễ thành hôn.
Tôn Sư Nhân Duyên nhìn mười cặp kết hôn cặp nào cũng xinh đẹp gái thời như hoa mùa xuân, trai thời như các chàng dũng sĩ phi ngựa trên đồng cỏ mênh mông thảo nguyên xanh rì, thật là xứng đôi vừa lứa áo quần lộng lẫy như tiên đồng ngọc nữ ai cũng muốn nhìn.
Tôn Sư Nhân Duyên làm lễ kết hôn xong rồi nói. Các con đã đến với nhau yêu thương nhau thề non hẹn biển trăm năm hạnh phúc trọn đời. Nhưng thời nay nhiều cặp vợ chồng nửa đường gảy gánh không phải vì kẻ mất người còn mà là ly hôn với nhau, gia đình tan nát, con cái nheo nhóc vô cùng bất hạnh thương đau.
Ai là kẻ gây ra, xưa nay không mấy ai hiểu rõ nay Thầy chỉ cho các con biết mà đề phòng. Những tên hung thần phá nát hạnh phúc đôi lứa chính là thói hư tật xấu trong tâm hồn các con, nói ra thời rất nhiều khó mà kể cho hết Thầy chỉ nêu ra vài tên hung thần tiêu biểu mà thôi.
Những cặp vợ chồng ít thói hư tật xấu, hoặc kìm hãm được thói hư tật xấu thường là đi hết đoạn đường đời trăm năm hạnh phúc. Những cặp không rõ những thói hư tật xấu ẩn núp trong tâm hồn mình không làm chủ được Lương Tâm thường hành động theo nó thời sự chia tay không sớm thời muộn mà thôi.
Có cặp vợ chồng hỏi, thưa Tôn Sư những thói hư tật xấu ấy là gì? Mà ghê gớm vậy phá nát sự yêu thương thề non hẹn biển của chúng con.
Tôn Sư Nhân Duyên nhìn mười cặp vợ chồng nói các con hãy lắng nghe thầy chỉ rõ những tên hung thần ấy ở trong mỗi tâm linh các con.
Đã là con người trần tục thời ai ai cũng có tánh Tự Cao Tự Tự Đại, Tự Phụ thường dẫn đến cái Ta quá lớn, trái ý Ta là sanh chuyện, ai nói gì cũng không nghe, chính là hung thần trong tâm hồn các con. Khi các con không làm chủ được những hung thần nầy, thời các con sẽ bị những hung thần nầy làm hại các con dẫn đến tan nát gia đình phá tan hạnh phúc. Đã là Đạo vợ chồng Nghĩa Phu Thê thời tuyệt đối không được Tự Cao, Tự Đại, Tự Phụ ương bướng không lắng nghe nhau, thậm chí xem thường nhau. Vợ cũng thế mà chồng cũng thế, dẫn đến không còn nhường nhịn nhau, nhẹ thời bất hòa nặng thời đi đến ly hôn. Tánh Tự Cao, Tự Đại, Tự Phụ ương bướng không lắng nghe nhau, thậm chí xem thường nhau chính là những Hung Thần phá nát Đạo Vợ Chồng, Nghĩa Phu Thê. Trong Đạo Vợ Chồng Nghĩa Phu Thê. Những Hung Thần nầy nổi lên cái lợi chẳng được bao nhiêu mà cái hại thời nhiều các con phải đề phòng chúng.
Chồng Tự Cao, Tự Đại, Tự Phụ ương bướn không lắng nghe, thậm chí còn xem thường Vợ. Vợ cũng thế Tự Cao, Tự Đại, Tự Phụ, ương bướn không lắng nghe Chồng, thậm chí xem thường Chồng. Ở đời với nhau làm sao lâu bền cho được thường đụng độ không lỗ đầu thời cũng mẻ tráng, nhẹ thời còn giữ được êm thấm nặng thời dẫn đến ly thân, nặng hơn nữa là li dị tan vỡ hạnh phúc chẳng còn.
Những tên hung thần thứ hai là tánh không Bằng Lòng lại hay Tự Ái. Những tên hung thần nầy phá nát sự Hòa Hiệp không còn gắn chặt vào nhau. Trong Đạo Nghĩa vợ chồng luôn luôn cởi mở tháo gỡ những khó khăn cho nhau, chén trong sóng còn động huống chi là con người. Sự sống ở đời chuyện hợp với người nầy không hợp với người kia là chuyện bình thường. Tôn trọng sự cá biệt nhau thông cảm cho nhau. Không vì sự Khiếm Khuyết thiếu sót không làm vừa lòng nhau dẫn đến đoạn tiệt lẫn nhau, Khiếm Khuyết về lời ăn tiếng nói cũng là chuyện bình thường vì Nhân vô thập toàn. Khiếm Khuyết về cư xử, ứng xử là chuyện Hiển Nhiên vì còn Phàm Tánh. Khiếm Khuyết về Phẩm Hạnh Đạo Đức là chuyện thường xảy ra nên mới nói tu nữa tu mãi. Trong công ăn việc làm. Thường là dẫn đến không vừa lòng nhau, nói qua nói lại chạm lòng tự ái, chê bai bất cần nhau, nhẹ thời còn giữ được ấm êm nặng thời ly thân dẫn đến li dị đường tơ duyên gãy gánh tan vỡ hạnh phúc gia đình. Phải đề phòng những Hung Thần trong tâm hồn của mình những Tánh Bất Lợi trong Đạo Vợ Chồng mà phải thông cảm cho nhau, sự Khiếm Khuyết ai cũng có, ít với nhiều mà thôi.
Tánh Không Bằng Lòng, lại hay Tự Ái Chê Bai bất cần nhau là đều cấm kị trong Đạo vợ chồng, lòng Tự Ái luôn trôi dậy cái ta quá lớn thời dù có trói buộc nhau mười lớp xiềng xích cũng bứt đứt mà rời ra. Vậy nên trong Đạo Nghĩa vợ chồng tuyệt đối không được Chê Bai, Bất Cần Tự Ái chuyện nhỏ sẽ biến thành chuyện to dẫn đến phát nát hạnh phúc lứa đôi. Trăm năm hạnh phúc chẳng thấy đâu mà chỉ thấy tương lai một màu đen thẳm.
Những tên hung thần nhóm thứ ba là tánh Nghi Ngờ. Ganh Ghét, Đố Kị, tánh Nghi Ngờ càng lớn thời niềm tin vợ chồng càng rạn nứt, Ganh Ghét càng cao thời giết chết tình yêu, Đố Kị bao nhiêu, thời bấy nhiêu đổ vỡ. Vậy nên trong Đạo Nghĩa vợ chồng tuyệt đối không được Nghi Ngờ, không được Ganh Ghét, không được Đố Kị. vì sử dụng sự Nghi Ngờ, tánh Ganh Ghét, hay Đố Kị. Mà phải Tin nhau mới đến với nhau còn Nghi Ngờ làm gì nữa. Thương yêu nhau mới đến với nhau Ganh Ghét để làm chi. Nào ai khác Đố Kị làm gì, chồng của mình, vợ của mình trông cho chồng vui, trông cho vợ sướng. Đằng nầy Ganh Ghét, Đố Kị nhau sao ông thế nầy, sao bà thế kia, thời không đi đến chia ly sao được. Tánh Ganh Ghét, Đố Kị Nghi Ngờ nhau đối với người ngoài còn không ổn huống chi là trong Đạo Nghĩa vợ chồng.
Nhóm hung thần thứ tư, là Thất Tín, Lừa Dối không Thật Lòng. Nói một đường hành động một nẻo, đánh mất dần lòng tin với nhau đào sâu lần hố ngăn cách dẫn đến tan vỡ hạnh phúc. Vậy nên trong Đạo Nghĩa vợ chồng tuyệt đối không được Thất Tín, không được Lừa Dối mà phải Thật Lòng, Trung Trực đối với nhau. Thất Tín, Lừa Dối không Thật Lòng đối với người ngoài còn không đem lại kết quả tốt huống chi trong Đạo Nghĩa vợ chồng.
Để giảm bớt về sự đổ vỡ hạnh phúc, vợ chồng cần phải nắm rõ những hung thần ác tánh trong tâm linh của chính mình. Để kìm hãm bớt những hung thần nầy vợ chồng phải đi trên một con đường. Chẳng hạn như con đường anh linh truyền thống Cha Ông, con đường Văn Hóa Cội Nguồn, sẽ được Cha Ông phù hộ, Cha Mẹ Trời che chở. Thời các con mới an vui hạnh phúc trăm năm được.
Vừa giảng giải vừa quan sát Tôn Sư Nhân Duyên thấy có ba cặp vợ chồng là không lắng nghe. Còn lại không ít nhiều lắng nghe. Tôn Sư nói tương lai hạnh phúc các con tự mình quyết định rồi 70 phần trăm là trăm năm hạnh phúc, còn 30 phần trăm còn chờ phần phước bản thân Ông Cha thời mới vượt qua.
Cả lớp lắng nghe câu chuyện Tình Yêu và Hạnh Phúc càng làm sáng tỏ thêm cho nội dung bài học, sự nhận thức các em vụt lớn lên trưởng thành về con đường Tình Yêu và Hạnh Phúc.
Cô Giáo Đào nhìn sắc mặt các em sáng lên một cách kỳ lạ, thời cũng hiểu được phần nào cốt lõi cơ bản nội dung của bài học. Sau nầy đóng góp cho đời những bông hoa trong Tình Yêu và Hạnh Phúc.
81. TRẦN GIAN CÕI TẠM, THIÊN ĐÀNG CHÍNH QUÊ
Thưa các bạn nói đến trần gian cõi tạm, cũng không ít người biết được điều nầy. Họ còn biết khi Linh Hồn đến cõi trần gian không mang gì đến, thời khi mãn kiếp trần gian Linh Hồn cũng chẳng mang gì theo. Dù cho vàng chất đầy kho, tiền chất như núi. Công danh địa vị cũng không còn. Tất cả đều bỏ lại nơi chốn trần gian.
Họ còn biết chỉ có ác nghiệp, thiện nghiệp là mang theo mình để rồi nhận lấy vui, hay khổ, siêu hay đọa. Lên Thiên Đàng, hay xuống Địa Phủ. Đó là những người có trí huệ cao không còn sa đắm trong dục vọng danh lợi, thường hay làm lành tu nhân tích đức về sau. Mà còn thấy rõ trần gian không chỉ là cõi tạm, mà con là trường thi Tạo Hóa sàng lọc những Linh Hồn, tiến hóa đến chân thiện không còn cái ác trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, siêu sanh về các cõi thiên đàng cực lạc quê hương của con người sống an vui hạnh phúc.
Còn phần đông tâm trí u tối không rõ được trần gian là nơi cõi tạm, họ ra sức thi nhau tranh Tài đoạt lợi, không mấy ai thi nhau tranh Đức. Vì tranh tài đoạt lợi mới có cảnh chém giết lẫn nhau, không có thủ đoạn độc ác nào mà không làm, tai họa vì thế thi nhau kéo đến, làm cho cuộc sống không yên. Cửa Địa Phủ mở ra cửa Thiên Đàng khép lại, nào phải Ông Trời làm hại chính mình lạm hại cho chính mình. Mãn kiếp trần Linh Hồn liền sa đọa xuống các tầng Địa Phủ.
Ngày xửa ngày xưa có một thương nhân vô cùng giàu có không thua kém gì Vua Chúa, Vua có tam cung, lục điện. Thời vị thương gia cũng có đến vài chục bà lớn trăm bà nhỏ.
Một hôm biết mình sắp chết liền cho người kêu hết mấy trăm người con hơn trăm bà vợ lại. Rồi nói rằng đến giờ phút nầy ta mới hiểu trần gian là cõi tạm, Khi Linh Hồn đến cõi trần gian ta không mang gì đến, sắp ra đi ta cũng chẳng mang gì theo, tất cả sự nghiệp công danh, người thân Ta đều bỏ lại, đúng là nơi trần gian tất cả chỉ là giả tạm trong sự vay mượn cả thân xác của ta.
Những gì vay mượn đều phải trả lâu hay mau chỉ là thời gian mà thôi. Linh Hồn ra đi rồi vay mượn xác thân mới, đi vào kiếp sống mới. Dù ở Thiên Đàng, Trần Gian Âm Cảnh, hay sa đọa xuống các Tầng Địa Phủ. Để có thân hình mới dù là vay mượn bằng cách nào cũng là vay mượn, vay mượn bằng Thai Sanh, vay mượn bằng Thấp Sanh, vay mượn bằng Hóa Sanh, vay mượn bằng Noãn Sanh. Đã vay mượn thời phải trả dù cho thọ triệu năm hoặc vài triệu năm cũng phải trả. Chỉ có Linh Hồn và sự chân thiện thuộc về Ta mới đi vào vĩnh viễn.
Gờ ta mới hiểu những thứ quý nhất của Linh Hồn không phải là danh lợi tiền tài, nhà cao cửa rộng, vàng bạc châu báu của cải vật chất. Mà là sự chân thiện của con người. Mỗi đức tánh chân thiện còn quý hơn cả châu báu ngọc ngà kim cương. Cũng may là ta đã tích góp thiện lành, cũng như chửng bị hành trang Văn Hóa Kinh Giáo mang theo cái giàu vĩnh viễn theo Linh Hồn.
Các Bà, các Con nên nhớ của cải vật chất chỉ là ngoại thân, cho đến cái thân còn phải vay mượn của Tạo Hóa, thời đâu có cái gì là của ta đâu. Nay ta mới hiểu bố thí Pháp mới là bố thí cao nhất, vì thế sự làm lành không gì hơn là truyền kinh giáo Thiên Ý Cha Trời sẽ được phước báo vô tận vô biên.
Ta sắp ra đi và bỏ lại tất cả, dù cho đó là người thân nhất của ta. Quên hương con người không phải là nơi trần gian cõi tạm. mà là Thiên Đàng Cực Lạc quê hương. Kìa ánh sáng vàng hồng đã xuất hiện Ta trở lại Thiên Bang, nói xong vị thương gia liền nhắm mắt lìa trần, để lại bao thương tiếc cho người ở lại cũng như sự thức tỉnh cho người đời hiểu Trần Gian cõi tạm Thiên Đàng Chính Quê.
82. SỰ NGHIỆP ĐẠO ĐỨC
Nói đến vợ chồng Hai Quận ở làng Tân Tạo, Xã Mỹ Đức thời nhiều người biết đến. Ông Quận là người làm ăn kinh doanh rất giỏi tuổi chưa đầy năm mươi giàu kếch xù trở thành tỉ phú.
Bỗng một hôm Ông ngồi thở dài, Bà Quận thấy vậy hỏi đang làm ăn phơi phới tiền vô như nước, ngày nào tôi cũng đếm tiền muốn hụt hơi, tuy có mệt nhưng khối người mơ cũng không được. Ông Quận nói giàu như chúng ta bây giờ ngày cơm cũng ba bữa, khi chúng ta còn nghèo ngày đỏ lửa cũng ba lần. Đâu phải giàu thời muốn ăn gì thời ăn nếu không biết kiêng cữ, ăn cho đã miệng thừa chất dinh dưỡng thời lắm bệnh xảy ra.
Nào là bệnh béo phì, nào là bệnh gút, gan nhiễm mỡ, máu nhiễm mỡ, tăng huyết áp, bệnh khớp, đái tháo đường. kinh mạch tắc nghẽn dẫn đến mệt mỏi hoa mắt đau đầu, căn bệnh nhà giàu là như vậy nào có sướng gì, nếu không biết kiêng cữ thường tập thể dục thể thao. Như Tôi và Bà tháng nào cũng phải đi hầu Bác Sĩ.
Giàu cho lắm cũng nằm một chiếc giường, đi một chiếc xe con, sáng lên máy bay chiều nơi khách sạn, bề bộn giàu có cho lắm cũng chỉ nuôi cái xác càng ngày càng già nầy mà thôi.
Khi chết đi có mấy ai đem theo dù chỉ là mảy lông sợi tóc. Nào phải lâu xa gì đâu chỉ vài mươi năm nữa là đến, đó là nói tuổi thọ lên hàng chín. Nhưng ở đời hên xui, may rủi họa, phúc, nào ai biết trước. Với lứa tuổi tui với bà cũng chẳng thiếu gì người đã ra đi. Bà Quận nghe xong nói Ông hôm nay làm sao vậy thần kinh Ông đã có vấn đề, đi bệnh viện kiểm tra lại xem. Ông Quận nói với lứa tuổi nầy là lứa tuổi minh mẫn nhất, ôn lại tất cả những gì đã qua, nghiền ngẫm những gì sắp đến, suốt ngày lo cho sự sống, mà quên đi lo cho sự chết khi mãn kiếp trần Linh Hồn sẽ về đâu.
Ở đời ít ai nghĩ rằng ngoài con đường làm ăn theo sự nghiệp vật chất, còn có một con đường khác hơn hẳn con đường sự nghiệp vật chất, đó là sự nghiệp Đạo Đức. Sự Nghiệp Đạo Đức còn hơn cả sự nghiệp Vua, Chúa, nói gì sự đến sự nghiệp giàu có như chúng ta, chỉ là hạt cát trong sự nghiệp Đạo Đức mà thôi.
Chúng ta có thể thấy rằng, Phật, Chúa, đâu cần kinh doanh vật chất, chỉ truyền Đạo Đức thế mà sự nghiệp của Phật, Chúa to lớn biết dường nào, tồn tại hàng nghìn năm, giàu có vô kể uy lực vô biên. Phật, Chúa tạo ra những món ăn tinh thần khai sáng trí tuệ đưa con người đến tột đỉnh vinh hoa, thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Với câu nói để đời còn quý hơn cả kim cương, ngọc ngà châu báu. Ta là Phật đã thành các ông là Phật sẽ thành, tạo niềm tin cho những ai muốn vượt qua cảnh phàm trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.
Sự giàu có của chúng ta cũng chỉ là tiền, là của cải vật chất. Tiền chỉ là phương tiện trong cuộc sống nó có thể thay đổi vứt đi bất cứ lúc nào, khi thế thời biến đổi, bằng chứng bao triều đại trôi qua thời mỗi loại đồng tiền đồng bạc có khác.
Của cải vật chất sắm đằng trước lỗi thời đằng sau, cứ mãi chạy đua không biết bao giờ đến đích. Trước đây tôi sắm cái gì cũng thuộc hàng xịn, nhưng giờ thời sao lỗi thời mất giá không theo kịp thời thế, công sức con người đổ xuống trở thành trở thành những phế liệu đi vào tái chế. Sự thật mà nói bởi trào lưu vận động không ngừng, cuộc sống không có điểm dừng chạy theo thời cuộc, xu thế trước bị xu thế sau đào thải, luân chuyển mãi nếu không thức tỉnh thời bị nó cuốn theo luôn, đến khi nhắm mắt xuôi tay dù có ăn năng cũng không còn kịp nữa. Bỏ lại tất cả Linh Hồn ra đi một mình, tối tăm mịt mù không biết là lên Thiên Đàng hay xuống các Tần Địa Phủ.
Thời gian cho một đời người là có hạng. Mới đó đầu đã bạc nhìn lại tất cả chỉ là ảo mộng, cứ mãi lo kinh doanh làm giàu không đem lại sự giải thoát cho Linh Hồn. Sự ngu si là ở chỗ nầy biết trước sự sống con người là có hạng cái chết phải đến trả lại xác trần thời Linh Hồn sẽ đi về đâu. Mang theo những gì?
Chỉ có người đại trí tuệ mới nhận thức được điều nầy họ sẵn sàng bỏ sự nghiệp vật chất chuyển sang sự nghiệp Đạo Đức. Sự nghiệp Đạo Đức khác xa với sự nghiệp vật chất sự nghiệp Đạo Đức là sự nghiệp truyền bá Văn Hóa chánh giác chánh đẳng đưa con người đến cảnh an vui tự tại, ra khỏi dục lạc thấp hèn, không còn sa đọa trong sanh tử, luân hồi, mà trở thành làm chủ sanh tử hiểu rõ Linh Hồn thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa trở lại thiên đàng cực lạc sống trên quê hương châu báu muốn gì được nấy an vui tự tại.
Những người căn cơ thấp, trí huệ kém thời chỉ biết vật chất tiền tài danh lợi, vì thế sự nghiệp Đạo Đức không bao giờ những người trí huệ thấp kém với tới, đôi khi phản bác lại nữa là khác.
Lịch sử tiến hóa nhân loại con người đã đúc kết cho ta thấy, những người xây dựng sự nghiệp Đạo Đức thời họ trở thành những bậc Tôn Sư, những bậc thầy đỉnh cao. Nhân loại luôn mãi tôn thờ Họ. Thậm chí những người xây dựng sự nghiệp Đạo Đức trở thành Phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Tổ, Thần Tổ, Chúa Tổ. làm vua làm chúa các tầng trời. Quê hương của họ chính là thiên đàng cực lạc.
Những người xây dựng sự nghiệp vật chất họ trở thành con người nhiều tiền nhiều bạc nhiều vàng nổi tiếng giàu có, nhưng không bao giờ trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa được, quê hương của họ tỳ theo nghiệp ác, thiện mà luân hồi có người phải sa đọa xuống các tần Địa Phủ vì làm bao việc ác. Cái giàu nơi chốn trần gian chỉ là cái giàu giả tạm, khi mãn kiếp trần Linh Hồn cũng trắng tay vì chẳng mang theo được gì, không hơn gì người nghèo khổ. Giàu có ăn sung mặc sướng nuôi thể xác cho lắm kết cuộc cũng là nấm mồ ngoài gò hoang. Ngu si dại dột anh hùng, giàu sang nghèo khổ cũng chung một gò, kết quả cuối cùng của thân xác là như vậy.
Còn Linh Hồn ác thời sa đọa xuống các tầng Địa Phủ chịu sự đọa đày khốn khổ vô biên, thiện thời siêu lên các tầng trời hưởng phước an vui tự tại.
Nếu đem so sánh, người theo sự nghiệp Đạo Đức, người theo sự nghiệp vật chất kết quả là hai cảnh giới khác nhau xa. Người theo sự nghiệp Đạo Đức tâm hồn thanh cao thoát tục, trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, không những siêu sanh trở lại thiên đàng cực lạc, mà con cái cháu chắt nhiều đời nhờ hồng phúc thiện lành của Cha Mẹ phát quan phát tướng, sang giàu, bao may mắn thường đem đến. Ở đời người ta thường nói có đức không sức mà hưởng, dầu rằng để của bằng non không bằng để đức cho con ở đời.
Còn những người theo sự nghiệp vật chất, làm giàu chân chính thời không sao, làm giàu bất chính thời khó mà tồn tại, như bọt nước thấy đó nhưng cũng dễ biến tan, ở đời người ta thường nói, đời Cha ăn mặn đời con khát nước, con cái cháu chắt thường nhận lãnh nhiều tai họa bao xui rủi thường kéo đến.
Ông Bà Cha Mẹ nhiều đời cũng chẳng lấy gì hưởng được chút phúc lành từ con cái, nên chẳng đặng siêu sanh.
Ông Quận nhìn bà Quận rồi nói. Tôi có quen hai người bạn một người tên Được, một người tên Thất, chứng minh cho sự thành công thất bại của họ.
Ông Được vốn sanh ra trong một gia đình Ông Cha là nhà kinh doanh vật chất làm ăn rất giỏi giàu kếch xù thuộc hàng tỉ phú. Ông Được thừa kế gia tài Ông Cha để lại phải nói là rất giàu, đáng lý ra Ông theo sự nghiệp của Ông Cha, đằng nầy Ông chuyển sang một hướng khác. Ông Được chuyển sự giàu có của mình sang sự nghiệp Đạo Đức. Theo những người đã thành công trên con đường sự nghiệp Đạo Đức, như Khổng, Lão, Phật, Chúa.
Sự chuyển đổi hướng đi của Ông Được chẳng thiếu gì người cho rằng thằng điên. Cũng khối người thấy tiếc cho Ông Được vì Ông Được là người có học thức cao đã từng thay Cha làm Tổng Giám Đốc. Tiền vô như nước khối người mơ ước mà không bao giờ được, đáng lý ra Ông Được mở rộng công ty như Cha Ông càng giàu hơn nữa.
Đằng nầy Ông Được không làm thế mà chuyển sang con đường sự nghiệp Đạo Đức Tôn Thờ Quốc Tổ, tôn thờ Cha Trời Lạc Long Quân, Mẹ Trời Địa Mẫu Âu Cơ. Tận độ nhân loại con người.
Cùng thời ấy nói về Thất gia thế cũng không thua gì Được phải nói là giàu sang thuộc nhất nhì thành phố. Thất kế thừa sự nghiệp của Ông Cha mở rộng kinh doanh làm đâu được đó tiền vô nước. Nhiều người cho rằng Thất mới là người khôn, còn Được thời khờ dại. Riêng tôi thời không nghĩ như thế, thời gian sẽ trả lời ai khôn hơn ai, ai là người thành công, ai là kẻ thất bại.
Ở đời người ta thường nói mưu sự tại nhơn thành sự tại thiên, có nghĩa là tất cả đều phải theo định luật của Tạo Hóa. Còn phước thời còn hưởng bao nhiêu sự may mắn đem đến làm đâu được đó, hết phước thời phải chịu bao sự rủi ro tai bay họa gởi.
Sự làm ăn kinh doanh của cải vật chất phần lớn đều phụ thuộc vào thể chế đương thời. Nhưng sự ở đời theo Định Luật Tuần Hoàn hết đông rồi lại tới xuân, thế cuộc thay đổi sự làm ăn coi như đi vào đảo lộn. Trong khi phước đức đã cạn, sự rủi ro là rất lớn. Thất đi đến phá sản nợ nần ngân hàng chồng chất trả không nổi. Chỉ còn bán sạch cơ nghiệp may ra trả mới nổi. Còn tiền còn bạc còn đệ tử, thời dù ở nơi thâm sơn cùng cốc họ cũng tìm đến ca tụng lên tận mây. Hết tiền hết ông tôi. Khi sạt nghiệp chẳng còn gì dù đứng ngay ngõ chợ cũng không ai nhìn thấy. Thế sự là thế tất cả đều là sự giả dối không mấy ai thật lòng với nhau, tất cả cũng chỉ vì tiền.
Còn Được đi theo con đường sự nghiệp Đạo Đức, trở thành Tôn Sư làm chủ một ngôi đền thờ lớn, phải nói là nhất nhì trong nước. Được đi đến đâu dân chúng cũng đều yêu mến đến đó, thậm chí nhiều lúc không có một đồng trong túi Được cũng đi khắp đó đây dân chúng thi nhau mà cung phụng cúng dường tài trợ. Cái giàu sự nghiệp là cái giàu cùng khắp thiên hạ. Cái giàu khắp thiên hạ mới thật sự là giàu cái giàu đi vào vĩnh viễn.
Còn Thất thì sao phải có tiền thời mới đi đây đi đó được không mấy người biết đến.
Nếu đem so sánh, đến hồi kết cuộc dù cho Thất không sạt nghiệp giàu có, thời cũng không bằng Được. Khi mãn trần Được lên Thiên Đàng Cực Lạc. Còn Thất thời sa đọa xuống các tầng Địa Phủ. Được trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, còn Thất thời làm Ma làm Quỷ. Con cái cháu chắt của Được nhờ hồng Đức của Được giàu sang phú quý. Con cái cháu chắt của Thất vì hết phước làm đâu trật đó xui rủi khắp cùng làm mười mà chẳng đặng một trở thành khốn khó đâu như con cháu của Được may mắn khắp nơi nhờ hồng phúc Cha Ông để lại.
Ông Quận nhìn Bà Quận rồi nói sự nghiệp Đạo Đức không phải ai cũng nhìn ra. Chỉ người có thiện duyên với Cội Nguồn mới thấy rõ con đường Đạo Đức hơn hẳn con đường vật chất. Có thể nói gấp hàng vạn lần
Bà Quận nghe xong liền giác ngộ tôi ủng hộ khi Ông chuyển sang con đường sự nghiệp Đạo Đức.
Thế là Ông Quận chuyển sang con đường Đạo Đức, không bao lâu thời Ông Bà hiển Thánh. Ông Quận trở thành Vua Trời. Bà Quận trở thành Thánh Mẫu cai quản một cung trời rộng lớn an vui tự tại. Con Ông Bà Quận đứa nào cũng giàu sang phú quý. Cháu chắt đứa nào cũng thông minh làm quan hết thảy.
83. SỰ TÍCH TRẦU CAU
Ngày xưa ở xã Thọ Sơn
Ý Trời đã định nên câu tục truyền
Mở màn câu chuyện Cau Trầu
Nên duyên chồng vợ mặn nồng trăm năm
Đó là câu chuyện Họ Cao
Đi vào huyền sử biết bao đẹp lành
Thủy chung, chung thủy một lòng
Anh em trọn đạo nghĩa tình chung đôi
Trầu, Cau, cùng với Đá Vôi
Thuần phong mỹ tục đẹp đôi châu trần
Gương soi để lại cho đời
Bài học vô giá sáng ngời muôn thu
Ngày xửa ngày xưa ở vào thời Hạ Hùng Vương đời thứ nhất Hùng Vân Lang, ở Châu Huyện Phú Vang, Xã Thọ Sơn. Có hai anh em họ Cao sanh đôi cùng họ với các Vua Hùng. Một người tên Tân, một người tên Lang, không may cha mẹ chết sớm hai anh em tựa vào nhau mà sống, cũng vì cùng mang họ Trời cùng họ Vua Hùng, Vua Hùng cho người mời về ban cho vàng bạc giúp đở, hai anh em họ Cao từ đấy không còn khốn khổ cực nhọc chăm lo học hành.
Ở lối xóm dân làng thường nhầm lẫn không biết người nào là anh người nào là em vì giống nhau như hai giọt nước, điều làm cho dân làng kính mến là hai anh em họ Cao thương yêu nhau hết mực chia bùi sẻ ngọt làm gì cũng có nhau.
Cha Tân và Lang trước khi chết có gởi gắm cho một người bạn thân Đạo Sĩ họ Lưu.
Đạo sĩ Họ Lưu nhớ lời người bạn gởi gắm bằng tìm đến nhà hai anh em họ Cao, nhưng chỉ chấp nhận một Tân làm đệ tử, nhưng anh em Tân và Lang không muốn chia lìa nhau, nhưng lời dặn của Cha là phải theo thầy học Đạo. Nhưng Đạo Sĩ họ Lưu chỉ thu nhận có một người. Tân đành phải chia tay với em, nhưng Lang quyết không rời xa anh đòi đi theo cho bằng được. Đạo Sĩ họ Lưu thấy tình nghĩa anh em họ Cao như vậy không biết làm sao đành phải nhận luôn hai người.
Đạo Sĩ họ Lưu có một cô con gái khá xinh đẹp, nói về Đức Hạnh thời ít ai bằng, cùng lứa tuổi với hai anh em họ Cao.
Tân học đâu nhớ đó rất thông minh. Lang không thể nào bì kịp. Đạo Sĩ họ Lưu nhờ tu luyện nên con mắt khác thường nhìn thời biết người nào anh người nào em.
Con gái Đạo Sĩ tên Duyên không có con mắt tu luyện như Cha nên thường nhầm lẫn Tân và Lang điều nầy làm cho cô hết sức bực mình, cô thường phàn nàn giống chi mà giống như in, khó mà biết được người nào anh người nào em. đôi lúc cô ngâm thơ.
Muốn chọn một người kết trăm năm
Phân biệt khác nhau, thật khó khăn
Trời sanh xuống thế, hai giọt nước
Biết chọn người nào, mãi băn khoăn
Để tìm hiểu người nào là anh người nào là em, một hôm Duyên bày ra một mẹo nhỏ mời hai anh em dùng bữa. Nhưng cô chỉ dọn một bát cháo với một đôi đũa, đứng sau khe vách Duyên nghe người tên Tân nói em ăn đi anh không đói, người tên Lang nói anh ăn đi lấy sức để học cũng gần đến ngày thi rồi đấy, hai anh em nhường qua nhường lại không ai chịu ăn bát cháo. Lúc nầy cô đã biết Tân là anh Lang là em. Cô thấy hai anh em không ai chịu ăn bằng bưng thêm một bát nữa. Từ đó cô thường gọi tên để tránh đi sự nhầm lẫn.
Ở đời sống gần nhau lâu ngày sanh tình cảm và Cô đã chọn Tân làm đối tượng để gần gũi Tân vốn rất thông minh và có tài làm thơ Tân cũng đã có cảm tình với Duyên.
Trời đã khuya nhưng Tân vẫn chăm chú học khi nhìn ra cửa sổ khung cảnh thật là yên tỉnh ánh trăng vằng vặc sáng linh linh Tân liền ngâm bài thơ.
Trăng tròn trăng sáng lung linh
Người tròn người cũng đẹp xinh lạ lùng
Trăng tròn hạ thấp xuống trần
Người tròn người cũng âm thầm nhả tơ
Làm cho người mãi ước mơ
Ngày đêm trông đợi bên kia con thuyền
Trăng tròn mười sáu trăng thề
Trăng soi đỉnh núi trăng đùa gió mây
Nhìn trăng lòng đã đắm say
Mơ con chim mộng về bay đầu giường
Khi đó Duyên chưa ngủ nghe Tân làm thơ hay quá, lời thơ có ý tỏ tình với mình, liền làm thơ đáp trả
Gió đưa mây, thời mây theo gió
Trăng đã tròn trăng sáng chờ duyên
Chờ người thi sĩ ngắm trăng
Cho mai với trúc chung nhau đường đời
Cần chi kẻ đợi người chờ
Thương nhau thời đến ngại gì mà lo
Lời thơ qua lại càng ngày càng khắn khít, đúng là đôi trai tài gái sắc hai người như nam châm luôn hút lấy nhau.
Đạo sĩ họ Lưu thấy mình tuổi cũng đã lớn, lại thấy Tân thông minh khác thường con đường tương lai rộng mở nên an lòng gả Duyên cho Tân.
Tân và Duyên nên nghĩa vợ chồng hai người thường quấn quít bên nhau không bao lâu Đạo Sĩ làm nhà cho vợ chồng Tân ở cách đó không xa chỉ độ vài trăm mét, còn Lang thời ở với thầy.
Nói về Đạo Sĩ họ Lưu thấy vợ chồng Tân thường quấn quít bên nhau thương yêu nhau hết mực thời cảm thấy hài lòng, nghĩ mình tuổi cũng đã xế chiều muốn đi đó đi đây luận bàn học đạo mở rộng kiến thức, bằng kêu hai vợ chồng Tân đến dạy bảo rằng hai con ở nhà chăm lo cho nhau Cha muốn đi vân du một chuyến có thể nói vài tháng đến vài năm Đạo Sĩ họ Lưu dặn dò xong thời lên đường vân du.
Nói về Tân từ ngày lấy vợ Tân tuy thương em nhưng không chăm sóc như trước nữa. Lang không biết vì sao trong lòng nổi lên bao nỗi buồn đôi lúc đầy chán nản.
Nói về Lang thấy thầy đi vân du không biết chừng nào trở về bằng qua nhà Tân chung sống với anh.
Một hôm Tân và Lang lên kinh đô xem rõ ngày ứng thí đến tối mịt mới về. Lang về trước còn Tân bận chút việc mới về sau. Lang vừa về tới nhà thời Duyên vợ Tân từ trong nhà chạy ra ôm chầm lấy Lang nói anh thay đồ đi cho em giặt. Thấy chị dâu nhầm lẫn bằng xô chị dâu ra nói chị nhầm rồi em là Lang không phải anh Tân. Đến lúc nầy Duyên vợ Tân mới phát hiện là không phải chồng mình cả hai người ngượng nghịu vô cùng xấu hổ.
Xui rủi làm sao lúc ấy thời Tân cũng đã về chứng kiến từ đầu đến cuối.
Từ đó Tân không còn chăm sóc đến Lang nữa và cố ý tránh né không muốn gặp mặt Lang. Lang biết anh mình buồn vì chuyện hôm rồi, để cho chị dâu phải lầm. Lang không muốn chuyện ấy xảy ra như thế nữa bằng bỏ nhà ra đi, để lại những dòng thơ.
Thương anh thương biết là bao
Nhưng vì giống quá chị dâu nhận lầm
Làm cho anh phải u buồn
Lòng em đau đớn vô cùng đớn đau
Thôi thì em phải ra đi
Để cho anh chị an vui cuộc đời
Chim trời các nước chim trời
Tìm Cha tìm Mẹ cõi bờ bên kia
Lang đi mãi đi mãi mấy ngày đường thời tới một con sông lớn nước chảy xiết không thể lội qua, xung quanh không có nhà dân, chỉ nghe tiếng sóng vỗ lao xao không ngừng. Lang ngồi cúi gục trên bờ tủi buồn số phận con người cô đơn. Lang ôm mặt khóc, khóc mãi, khóc mãi đến nỗi dân làng từ xa vẫn nghe. Sáng hôm sau Lang chỉ là một cái xác không hồn lần lần hóa đá.
Nói về Tân thấy Lang vắng bóng mấy ngày nay trong lòng cảm thấy bất an bằng vào phòng Lang nhìn thấy phong thơ để trên giường. Đọc xong bài thơ Tân nghĩ phận làm anh mà không lo cho em được để bao chuyện đáng tiếc xảy ra. Nỗi lòng ray rứt cuối cùng Tân nói với vợ em ở nhà tự lo cho bản thân, anh phải đi tìm Lang.
Thế là Tân rời khỏi nhà, để vợ ở lại một mình lên đường đi tìm Lang. Đi được mấy ngày thời đến một con sông lớn nước chảy xiết không có cách gì qua được. Tân bằng đi dọc theo bờ sông mục đích gặp người nào thời hỏi thăm có thấy người nào giống mình đi qua đây không. Tân mệt lã hai chân đã mỏi đến bên hòn đá ngồi đấy chờ có thuyền qua sông.
Trong lúc đang ngồi chờ thời gặp một người dân đi qua Tân hỏi thăm có người nào giống mình đi qua sông không?
Người dân trả lời cách đây mấy hôm có một người đến đây không biết có chuyện gì ngồi khóc, khóc mãi khóc mãi hóa thành tảng đá, tảng đá cạnh ông đang ngồi đấy. Tân nghe xong ôm mặt khóc ròng thì ra tản đá chính là em của mình.
Tân ôm tảng đá khóc mãi khóc mãi người nông dân bỏ đi không muốn nhìn cảnh ấy, Tân khóc mãi cho đến lúc tắt thở chết lúc nào mà Tân cũng không biết, chỉ còn con sóng nhấp nhô tiếng nước chảy cuồn cuộn dưới lòng sông.
Tân chết hóa thành một cây thân mọc thẳng lên trời bên cạnh tản đá.
Nói về vợ Tân ở nhà chờ mãi ngày qua tháng lại không thấy chồng về, nhớ chồng lại sống cô đơn. Vợ Tân quyết đi tìm chồng nên cũng bỏ nhà ra đi. Theo người ta chỉ Duyên đi mãi đi mãi cho đến một hôm trước mặt Duyên là con sông rộng lớn, Duyên vợ của Tân cũng mệt lã người. Duyên nhìn thấy một cây mọc thẳng lên trời bên cạnh tảng đá, cơ may gặp người dân đi tới Duyên mừng quá hỏi thăm có thấy người nào đi tìm em không? Người dân nói không biết vì sao cách đây không lâu có một người trai trẻ ôm tảng đá ngồi khóc khóc mãi rồi hóa thành cây mọc thẳng lên trời chính là cây kia nói xong người ấy bỏ đi.
Duyên nghe xong thời bật khóc chạy tới ôm cây không nhánh chỉ có lá như đuôi phụng mọc thẳng lên trời như tìm Cha tìm Mẹ họ của chàng là họ Cao họ của Trời, chàng đã dẫn em đi tìm Cha Trời Mẹ Trời. Duyên ôm cây có lá như đuôi phụng mọc thẳng lên trời khóc khô cả nước mắt, khóc cho đến kiệt sức rồi chết hóa thành loại cây dây bám vào ôm chặt lấy thân cây như không muốn tách rời.
Dân Làng ngậm ngùi bằng lập miếu để thờ giọi là Miếu Thảm Sầu tiếng đồn từ đó lan xa. Ai cũng muốn đến thắp nén hương. Miếu Thảm Sầu rất linh tiếng đồn xa hơn nữa.
Nói về Đạo Sĩ họ Lưu một thời gian vân du luận bàn học đạo trở về nhà vô cùng kinh ngạc vì không còn ai nhà cửa vắng tanh tụi nó đi đâu kìa. Đạo Sĩ bằng tìm tòi trong nhà chợt nhìn thấy bài thơ Lang ra đi để lại cho anh, bằng hình dung hiểu ra tất cả thì ra là thế chúng nó đã bỏ nhà ra đi. Đạo Sĩ nhờ mọi người tìm kiếm nhưng không thấy, chỉ nghe thấy tiếng đồn về Miếu Thảm Sầu bằng thưa lại với Đạo Sĩ.
Đạo Sĩ họ Lưu bằng lên đường tìm đến Miếu Thảm Sầu thấy một Tảng Đá, cạnh Tảng Đá có một cây không nhánh, lá như đuôi phụng mọc thẳng đứng lên trời Đạo Sĩ biết đó là con rể của mình. Ông nhìn cây dây bám chặt vào thân cây như muốn không rời nhau Đạo Sĩ không cầm được giọt nước mắt đúng là cặp đôi Chung Tình. Đạo Sĩ bằng kể lại tất cả cho người dân nghe về câu chuyện hai anh em họ Cao cùng con gái của ông. Dân làng nghe xong vô cùng cảm động bằng đổi tên Miếu Thảm Sầu thành Miếu Chung Tình ở gần ven sông.
Một năm sau trời hạng rất dữ, sông, suối, cạn kiệt cây cỏ đều cháy khô duy cây và dây quấn quít ôm chặt bám lấy nhau bên cạnh tản đá vẫn xanh mượt tình yêu thủy chung chiến thắng sự khắc nghiệt, dù cho hoàn cảnh nào. Mọi người đến dâng hương cho đây là điềm lạ.
Một hôm Hùng Vân Lang ngự giá đi ngang qua xứ đó nhìn thấy dân chúng khá đông vái lạy một cây không nhánh mọc thẳng lên trời xanh tốt thời lấy làm lạ trong khi trời nắng hạn chang chang cây cỏ bị cháy khô bằng nói với quan tướng đưa Trẩm đến đó xem. Đến nơi Vua nhìn thấy một ngôi Miếu hỏi dân thời được biết đây là Miếu Chung Tình. Vua nghe xong lấy làm kinh ngạc.
Lạc tướng bằng kêu một người dân đến hỏi dân kể cho Lạc Tướng cùng Vua Hùng nghe. Nghe xong Vua Hùng lấy làm cảm động. Vua Hùng liền bước đến Tảng Đá, nhìn cây mọc thẳng lên trời, vạch lá nhìn xem dây lạ khắp mọi chỗ đúng là dây lạ cây lạ nói với quan Lạc Tướng rằng Trẫm chưa nhìn thấy bao giờ. Khanh cho người trèo lên hái quả Vua cho bổ ra và ném thử thấy vị chát không có gì lạ. Nhưng khi nhai với lá cây dây thời liền biến ra một vị là lạ ở đầu lưỡi vừa ngon vừa ngọt vừa thơm cay.
Vua lại lấy cả ba thứ nhai với nhau thật bất ngờ cảm thấy trong người nóng bừng lên, như có hơi men, môi đỏ tươi như máu, mọi người thấy thế đều kinh ngạc. Vua bảo đúng là họ rồi, anh em nhà họ Cao cùng với Trẫm có sự liên quan mật thiết. Với câu chuyện Thắm Tình anh em, trọn nghĩa vợ chồng, thật đáng để cho đời suy tôn học hỏi.
Từ đó Vua Hùng ra lệnh trồng ra cho nhiều trước là chữa được nhiều thứ bệnh, sau là nêu gương cho hậu thế, anh em thương yêu như thể tay chân. Cũng như nói lên tình yêu chung thủy. Từ đó Bách Việt Văn Lang đi vào cúng kiến nghi lễ phải có Trầu, Cau, Vôi. Nhất là tục lệ kết duyên cưới hỏi. Phải có đủ ba món Trầu, Cau, và Vôi. Nói lên tình yêu thủy chung gắn bó sống chết có nhau. Về sau có người trong lễ cưới hỏi chỉ dùng có Trầu, Cau không có Vôi. Vì người ta cho rằng bạc như Vôi. Làm cho mối tình Tân và Duyên đầy cảm động và cũng đầy nước mắt. Câu chuyện sự tích Trầu, Cau, đến đây là hết.
84. CẢNH NON TIÊN
Ở vào thời Hạ Hùng Vương, Hùng Diệp Vương đời thứ tư lên ngôi Quốc Vương trị vì thiên hạ, thay Cha là Hùng Tiên Lang.
Khi ấy ở xã Quảng Điền, Huyện Tam Giao, Lô Châu. Có một gia đình sanh đẻ muộn được một cô con gái tên là Đỗ Quyên.
Đỗ Quyên lên mười sáu tuổi thời một cơn bịnh lạ nổi lên. Cô tê liệt nửa người, Cha Mẹ Đỗ Quyên vô cùng đau khổ tìm thầy chữa bệnh cho con, chạy hết tiền mà bệnh cũng không khỏi. Đỗ Quyên chỉ biết lê lết trong nhà.
Một hôm Đỗ Quyên nằm mơ thấy một vị thần đến mách bảo. Cô hãy kiên trì niệm Địa Mẫu Âu Cơ, thời Cô sẽ được Mẹ Âu Cơ cứu cho nói xong vị Thần biến mất. Cô liền kẻ với Cha Mẹ, nhờ người viết bài vị Địa Mẫu Âu Cơ, để Cô thắp hương cầu khẩn ngày đêm. Sự thành tâm của Cô ngày đêm luôn thắp hương cầu khẩn được ba tháng thời một chuyện diệu kỳ xảy ra. Đỗ Quyên vừa thắp hương cầu nguyện xong thời hai mắt Cô nặng trĩu Cô lên giường nằm ngủ thiếp đi Cô thấy một người xinh đẹp hiện ra, đưa Cô đến cõi Non Tiên.
Khi đến nơi Cô không khỏi kinh ngạc vì Non Tiên cảnh đẹp như tranh, đất đai toàn là vàng, bạc, ngọc ngà, châu báu, nhà cửa nguy nga tráng lệ, bảo tháp cung điện vàng son rực rỡ, không như chốn nhân gian vạn vật tầm thường. Nơi Non Tiên vật gì cũng tỏa hào quang, từ cây cối đến chim muôn.
Người ở đây sao mà to lớn khác hẳn người dương thế xinh đẹp lạ lùng. Người Phụ Nữ xinh đẹp cười nói với Đỗ Quyên. Đây là dãy núi Trì Địa, một trong bảy dãy núi báu hạ thiên vũ trụ. Thần, Tiên sống ở đây tuổi thọ rất cao. Các vị Thần, Tiên sống ở đây đói thời ăn hoa quả, cũng như hít thở tu thiền luyện khí. Nền khoa học Địa Tiên đạt đến đỉnh cao chế tạo ra nhiều bảo bối phục vụ cho con người.
Các Thần, Tiên, sống ở đây thường chu du ngoạn cảnh thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên kỳ bí, cũng như thưởng thức bao vẻ đẹp do bàn tay con người tạo lên. Như con nhìn thấy đó kỳ quang bảo tháp khắp nơi, đường sá dọc ngang như bàn cờ, cung vàng điện ngọc lầu đài nguy nga tráng lệ không kể xiết. Vật liệu xây dựng toàn là vàng, bạc, ngọc ngà, trân châu, kim cương, pha lê, xà cừ, mã não trâm quý vô cùng.
Ở Non Tiên Cực Lạc sung sướng gấp vạn lần chốn nhân gian. Muốn gì được nấy, lại không phải lo đói nghèo, cũng không ốm đau bệnh tật. Non Tiên Cực Lạc Trì Địa rộng lớn gấp hàng vạn tỉ lần địa cầu chốn nhân gian. Đất đai châu báu rộng lớn như thế người ở không bao giờ hết, nên không có sự tranh giành về đất đai như chốn nhân gian. Sống trên Non Tiên Cực Lạc luôn được bình yên vì không có chiến tranh, cũng như nắng hạn, bão lụt thời tiết ôn hòa. Cũng như không có người giàu kẻ nghèo về vật chất. Mà chi hơn nhau về hiểu biết giác Ngộ, cũng như Đạo Đức mà thôi. Cảnh Non Tiên Cực Lạc là cảnh mùa xuân, muôn hoa đua nở, hoa quả sum sê. Chỉ cần ăn một quả Nhân Sâm thời bệnh gì cũng khỏi.
Nơi tòa lâu đài kia, là nơi Ông Bà cao đời con ở đó, và đã biết con lên đây nên chuẩn bị cho người ra đón. Người phụ nữ xinh đẹp nói xong, Đỗ Quyên nhìn thấy từ trong tòa lâu đài một người phụ nữ xinh đẹp bay ra, nháy mắt thời đến chỗ Đỗ Quyên. Chắp tay lễ phép nói rằng đội ơn Phụng Thiên Thánh Mẫu đã dẫn con cháu của Thần đến đây.
Phụng Thiên Thánh Mẫu nói Ta vân lệnh Địa Mẫu Âu Cơ dẫn Đỗ Quyên đến đây gặp Ông Bà Cao Đời Cao Tổ chữa bệnh cho nó, nói xong Phụng Thiên Thánh Mẫu hiện thân trở lại nguyên hình thành người phụ nữ to lớn, còn to lớn hơn người phụ nữ từ trong tòa lâu đài bay ra xinh đẹp không bút mục nào tả nổi bay về trời. Người phụ nữ xinh đẹp nhìn theo Phụng Thiên Thánh Mẫu nói Ta còn phải tu luyện nhiều mới được như Phụng Thiên Thánh Mẫu. Nói xong người phụ nữ xinh đẹp nhìn Đổ Quyên nói Ta là Nội Tằng Tổ Tổ của con, Linh Hồn của con không được bình thường vì ảnh hưởng đến thân xác bại liệt của con, người phụ nữ xinh đẹp phất tay một cái tức thời Linh Hồn Đỗ Quyên trở lại bình thường,
Người phụ nữ xinh đẹp nắm lấy tay Đỗ Quyên bay thẳng về tòa lâu đài nguy nga tráng lệ. Đỗ Quyên nhìn sững tòa lâu đài kiến trúc cổ kính đẹp lộng lẫy không bút mực nào tả xiết vật liệu xây dựng toàn là châu báu. Vàng, bạc, trâu châu, kim cương, pha lê, xà cừ, mã não. Hào quang muôn sắc nghìn màu đẹp lạ lùng hoa văn sống động như thật không sao diễn tả nổi.
Người phụ nữ xinh đẹp nắm lấy tay dẫn Đỗ Quyên đi vào cung điện Đỗ Quyên thấy người nào cũng to lớn xinh đẹp vô cùng. Người phụ nữ biểu Đỗ Quyên lạy những người ấy đây là những Ông Bà Cao Đời Cao Tổ của con. Đỗ Quyên lạy hết người nầy đến người kia không biết bao người. Người phụ nữ dẫn Đỗ Quyên vào một căn thờ lớn, thờ người phụ nữ vô cùng xinh đẹp. Người phụ nữ ấy nói con lạy Mẹ Âu Cơ đi. Đỗ Quyên nghe nói tới Mẹ Âu Cơ thời không khỏi giật mình vì ngày đêm mình thường niệm danh hiệu của Mẹ. Đỗ Quyên thấy được dung nhang qua bức tượng Mẹ Âu Cơ, liền thành tâm lễ lạy niệm rằng con lạy Mẹ Âu Cơ.
Tức thời trong người Đỗ Quyên thấy khác lạ Linh Hồn khỏe hẳn ra, trên đầu phát tỏa hào quang. Người phụ nữ dẫn Đỗ Quyên khen rằng con giỏi lắm. Mẹ Âu Cơ đã chứng tấm lòng của con, nên đã ban cho con Thần Lực, Điển Lực, Điển Quang. Chỉ cần con hoàn hồn trở lại thời thân xác nơi phàm tục của con tức thời khỏi bệnh kinh mạch lưu thông khỏe mạnh.
Không những thế mà con có tài chữa bệnh xoa bóp tới đâu thời bớt bệnh tới đó, khi con trở về trần gian ra sức cứu người, con sẽ trở lại Non Tiên Cực Lạc, hoặc các cõi Non Tiên Cực Lạc cao hơn.
Non Tiên Cực Lạc nầy chỉ là Non Tiên Cực Lạc Trì Địa thấp nhất trong bảy Non Tiên. Trên Non Tiên là cảnh giới các Tần Trời. Đỗ Quyên nghe xong lấy làm kinh hãi Non Tiên ở đây cảnh giới xinh đẹp như thế nầy hơn trần gian gấp vạn lần. Thế mà chỉ là Non Tiên Cực Lạc thấp nhất ôi vũ trụ bao la không thể nghĩ bàn. Người phụ nữ xinh đẹp nói ở đây một ngày bằng trần gian một năm. Con đến đây cũng đã khá lâu, mau nhắm mắt lại Ta đưa con về trần thế.
Đỗ Quyên vừa nhắm mắt thời không biết gì nữa, khi tỉnh dậy nghe Cha Mẹ khóc lóc kể lể, con ơi là con, sao con bỏ Cha Mẹ mà đi. Đã hơn bảy ngày rồi mà con chưa tỉnh dậy. Tim con dần dần hết đập hơi thở của con lúc có lúc không, con ơi đừng bỏ Cha bỏ Mẹ mà đi.
Đỗ Quyên nghe Cha, Mẹ vừa khóc vừa kể lể cảm động nói con không chết đâu. Thấy con mở mắt nói, Cha Mẹ Đỗ Quyên vô cùng mừng rỡ nói Mẹ Âu Cơ đã cứu con sống dậy.
Đỗ Quyên kể lại tất cả những gì Cô đã trải qua cũng như chứng kiến cảnh giới Non Tiên Cực Lạc. Cô gặp những ai nói cho Cha Mẹ nghe. Cha Mẹ cô nghe đến đâu thời kinh ngạc đến đó. Nơi Non Tiên Cực Lạc mà còn phải thờ Mẹ Âu Cơ vậy mới biết Mẹ Âu Cơ là người Mẹ như thế nào.
Đúng là người Mẹ Trời trên cả Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa quyền năng tột thế không thể nghĩ bàn. Cũng như Thiên Đàng Địa Phủ là có thật, chết đâu phải là hết mà là mang theo nghiệp ác nghiệp thiện bên mình, Cha Mẹ Đổ Quyên phát tâm làm lành, lánh dữ tôn thờ Mẹ Âu Cơ, cầu mong được siêu sanh về Non Tiên Cực Lạc theo Ông Bà Cha Mẹ.
Nói về Đỗ Quyên từ khi tỉnh dậy khỏe mạnh không còn đau yếu gì nữa, tiếng đồn vang xa nhiều người đến thăm hỏi, Đỗ Quyên đều kể lại cho mọi người nghe trần gian chỉ là cõi tạm thiên đàng mới thật chính quê. Nhưng muốn lên Thiên Đàng thời phải tôn thờ Cội Nguồn đi đôi hành thiện. Không những để đức cho con cái lại được Mẫu Mẹ độ trì, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa che chở. Trên đời nầy không có cái lợi nào hơn là tôn thờ Nguồn Cội đi đôi với hành Thiện, ít gặp tai họa thường gặp may mắn có thể nói là muốn gì được nấy trong cuộc sống đời thường. Đỗ Quyên độ không biết bao nhiêu người trở về con đường thiện lành tôn thờ Nguồn Cội.
Trong số người đến thăm hỏi Đỗ Quyên có một người phải nói là đau đủ thứ chứng bệnh, không thầy nào chữa được uống thuốc gì cũng không khỏi, có thể nói là sắp chết đến nơi tên là Bà Nhung. Nghe Đỗ Quyên kể về Mẹ Âu Cơ rất linh thiên cũng muốn tôn thờ, nhưng sắp chết đến nơi, lại vô cùng mệt mỏi. Đỗ Quyên thấy vậy nói bà đến đây tôi xem thử. Đỗ Quyên được Mẹ Âu Cơ ban cho Thần Lực, Điển Lực, Điển Quang khác với người thường Đỗ Quyên xoa bóp cho Bà Nhung thời nhiệm mầu thay Bà Nhung cảm thấy khác lạ trong người, Đỗ Quyên xoa bóp đến đâu thời bệnh tình thiên giảm đến đó nhất là đau đầu chóng mặt cũng như bại xụi là hết hẳn. Không thể tin được Bà Nhưng thấy đôi tay Đỗ Quyên như có cái gì đó không thể nào diễn tả được đôi bàn tay nhiệm mầu. Bà Nhung nào có biết sự nhiệm mầu ấy là do Thần Lực, Điển Lực, Điển Quang Mẹ Âu Cơ đã ban cho Đỗ Quyên.
Bà Nhung khỏi bệnh từ đó ca ngợi Đỗ Quyên không hết lời, Bà Nhung có quen biết một người phải nói là giàu có tên là là Bà Thoa. Bà Thoa có bốn người con duy nhất có một người con trai tên là Hậu, như Hậu mang chứng bệnh điên điên khùng khùng không biết bao nhiêu đạo sư phù thủy ra sức cứu chữa nhưng không khỏi. Bà Thoa mẹ của Hậu nghe Bà Nhung ca ngợi Đỗ Quyên không hết lời bằng nói nếu Đỗ Quyên chữa khá bệnh cho con tôi thời tốn kém bao nhiêu tôi cũng chịu. Bà Nhung cùng gia đình Hậu đến gặp Đỗ Quyên nói lên nguyện vọng của gia đình.
Đỗ Quyên nhìn sơ qua cậu con trai, con mắt Cô khác thường nhìn thấy các huyệt đạo bế tắc, là do uống nhiều dược liệu có Âm Hàn. Lại thêm có những âm hồn quấy phá. Đỗ Quyên liền niệm danh hiệu Mẹ Âu Cơ đôi bàn tay Cô xoa bóp tới đâu Âm Hàn liền tiêu tan đến đó, các huyệt đạo khai thông trở lại. Những Âm Hồn lâu nay xâm nhập vào Hậu bị Điển Lực Điển Quang đánh cho tiêu tan, chơn dương hưng tịnh trở lại thần kinh liền ổn định. Hậu đã trở thành một người khác từ sắc mặt đến lời ăn tiếng nói. Không còn điên điên khùng khùng như trước đây. Gia đình Hậu lấy làm mừng rỡ mừng rơi lệ nói con tôi đã khỏi bệnh rồi. Cha Mẹ của Hậu lấy ra hơn năm mươi lượng vàng đưa cho Đổ Quyên nói gia đình tôi quá bất ngờ nên không chửng bị nhiều vàng hơn nữa tạm thời chỉ có bấy nhiêu, nếu chưa đủ mai vợ chồng tôi sẽ đem đến.
Đỗ Quyên nói tài chữa bệnh của tôi là do Mẹ Âu Cơ ban cho nên tôi không nhận lấy vàng bạc của ai, chỉ là làm phước thiện tùy lòng hảo tâm của người bệnh mà thôi. Cha Mẹ của Hậu nghe Đỗ Quyên nói như vậy liền nói từ nay vợ chồng tôi nguyện tài trợ tất cả chi phí ăn uống chi tiêu của Cô. Để Cô an tâm không lo thiếu thốn chuyên tâm cứu người. Không những gia đình của Hậu mà con nhiều gia đình khác cũng đóng góp công sức tạo mọi điều kiện thuận lợi để Đỗ Quyên cứu người.
Đỗ Quyên đêm ra sức làm lành Đỗ Quyên chữa bệnh cứu người đông vô số kể, nổi tiếng là người chữa bệnh giỏi nhất Lô Châu.
Hơn sáu mươi tuổi Đỗ Quyên mãn kiếp trần siêu sanh về Non Tiên Cực Lạc ở dãy núi Tu Di cao hơn Ông Bà nhiều đời nhiều kiếp của Đỗ Quyên trở thành Dược Vương Thánh Mẫu sống an tự tại trên Non Tiên Cực Lạc.

Xu hướng

Bài mới









  • Chịu trách nhiệm nội dung: Trần Mạnh Hiệp
  • © 2024 Công ty Cổ phần MXH Tinh Tế
  • Địa chỉ: Số 70 Bà Huyện Thanh Quan, P. Võ Thị Sáu, Quận 3, TPHCM
  • Số điện thoại: 02822460095
  • MST: 0313255119
  • Giấy phép thiết lập MXH số 11/GP-BTTTT, Ký ngày: 08/01/2019