Long Hoa lược truyện

Annurago
31/12/2023 1:8Phản hồi: 144
144 bình luận
Chia sẻ

Xu hướng

85. TẠ VÀ TẤN
Ngày xưa ở làng Cây Gạo, Xã Hòa Ân, Huyện Đầm Lầy,
Có hai người chuyên hành nghề không mấy lương thiện không nói là bất chính, một người tên là Tấn, một người tên là Tạ.
Tạ mở sở hụi, sau nầy thêm cái nghề cho vay nặng lãi, còn Tấn thời mở sòng bài bạc, còn làm thêm nghề phục vụ gái tơ, kể cả xì ke ma tuý.
Hai người chuyên làm nghề phi pháp thế mà chính quyền địa phương không đá động gì đến, có lẽ ăn tiền đút lót trám họng rồi.
Tạ và Tấn làm cho không biết bao nhiêu gia đình phải tan gia bại sản nhà cửa tan nát.
Một hôm Tạ chủ sở hụi thấy tiền sở hụi lên đến bạc tỉ, liền cướp sạch những sở hụi đóng góp của bà con, rồi dẫn gia đình tới một nơi khác để ở thế là Tạ giàu to. Tạ lấy tên khác mở ra sở hụi mới với mưu mô xảo trá bước đầu Tạ làm cho bà con tin, khi thấy số tiền lên đến bạc tỉ Tạ cướp sạch chuyển đến nơi khác ở đổi tên thay họ, cứ thế Tạ đã thành công ba bốn lần. Tạ nghĩ cứ mỗi lần dời đi là mỗi lần khó khăn nhất là Cha Mẹ già cùng ba con nhỏ. Tạ tìm đến một nơi có thể nói là lý tưởng dân cư đông đúc, buôn bán sầm uất với cái nghề cho vay nặng lãi cũng đã giàu rồi. Tuy hành nghề bất chính nhưng Tạ có hiếu có nghĩa đối với Cha Mẹ ở đời ít người được như vậy.
Ba người con của Tạ mỗi ngày mỗi lớn học hành không ra gì cả, nhưng tài ăn chơi thời rất giỏi thuộc tầm cở đàn anh, sự ăn xài tiêu pha, nhưng chỉ một người làm ra, ba người chơi bời tiêu pha của kho cũng hết. Ta nói mãi với ba người con không được vô cùng chán nản, đúng với câu của phi nghĩa khó giàu lâu, làm ăn chân chính giàu lên mới bền. Tạ liền đi chùa sám hối, nghe thầy giảng luật Nhân Quả gieo gì gặt nấy, không mấy ai thoát khỏi dù cho là phật, Thánh, Tiên. Tạ không dám làm ác nữa quay sang làm phúc làm lành, không bao lâu thời qua đời sau một cơn tai nạn giao thông.
Lại nói về Tấn, làm ăn giàu như thổi sòng bài sòng bạc càng ngày càng hưng thịnh, có đàn em giang hồ xiết nợ, nhiều người cũng đã bỏ mạng vì không trả nổi. Quan quyền địa phương vì đã ăn tiền đút lót nên bỏ mặt làm ngơ.
Cọng với nghề mại dâm ông trùm gái tơ, xì ke ma tý Tấn đi sâu vào con đường tội lỗi chất chồng như núi, Xưa nay Tấn làm gì được nấy là nhờ hồng phúc Ông Cha để lại, phúc đức đâu phải tự nhiên mà có, có gieo ra thời mới gặt vào. Tấn chưa gieo phúc đức ngày nào chỉ làm toàn là chuyện ác. Phúc hết thời họa cũng tới, bọn đàn em lai rai làm phản thường đụng độ nhau.
Cho đến một hôm bị một tên đàn em tên là Quả tạo phản bắn chết Tấn cướp lấy gia tài của Tấn, kể cả những người vợ còn trẻ xinh đẹp cũng thuộc về Quả. Kết quả của Tấn chỉ là con số không, lại nhận lãnh mấy viên đạn quằn quại trên vũng máu chết thảm thê.
Tấn mang theo nghiệp ác đầy mình liền sa đọa xuống tần Địa Phủ thứ 7 Linh Hồn Tấn nhìn đâu cũng thấy ghê sợ cảnh chém giết xảy ra không lúc nào dừng, tiếng gào thét đau đớn bị phanh thây xẻ thịt. Tấn sợ quá nhưng làm sao tránh khỏi, bầy quỉ đánh hơi ra Tấn liền lao tới xé xác ăn tươi nuốt sống, Tấn ra sức chống trả nhưng nào có lại bị lũ quỉ xé xác ăn thịt. Linh Hồn của Tấn liền tan biến, đến khi hoàn hồn tỉnh dậy thấy mình bị quỉ trói chân trói tay mổ bụng moi gan rút gân đau đớn kêu la thảm thiết đau đớn quá chết đi linh hồn tan biến không còn, đến khi hoàn hồn tỉnh dậy thời thấy mình đang bị lửa bao vây. Tấn vô cùng kinh hãi kêu la cầu cứu, nhưng nào có thấy ai biển lửa từ từ siết lại hơi nóng ngùn ngụt lửa phủ tới đốt cháy Tấn. Tấn đau đớn chịu không nổi rồi chết đi Linh Hồn lại tan biến, đến khi hoàn hồn tỉnh lại thấy mình đang lặng hụp dưới nước đen ngòm, bầy rắn lao tới chúng thi nhau cắn xé thịt da của Tấn, Tấn đau đớn quá thét gào rồi chết đi Linh Hồn Tấn liền tan biến. Đến khi hoàn hồn trở lại thời thấy mình đang nằm trong băng tuyết hơi lạnh thấu xương. Lạnh nứt thịt da đau đớn quá rên la, hai con quỉ nghe tiếng rên la bằng lao tới trói chặt Tấn lại chặt mổ bụng lấy gan. Lấy tim, lấy phèo, lấy phổi Tấn đau đớn thét lên rồi không biết gì nữa, đến khi tỉnh dậy thời thấy mình bị trói vào một trụ đồng. Hai con quỉ cưa xẻ từ trên đầu cưa xuống tới chân máu chảy lênh láng. Tấn đau đớn tột cùng rồi ngất đi không biết gì nữa, đến khi tỉnh dậy thời thấy mình bị quỉ liệng vào cối xay, xay nát nhừ Tấn đau đớn gào thét thê thảm rồi không biết gì nữa. Đến khi hoàn hồn tỉnh dậy thấy cảnh tượng hãi hùng chưa kịp chạy trốn thời thấy hai con quỉ cầm đao chạy tới nói thằng nầy khi còn ở dương gian ác lắm bằng chém xối xả vào Linh Hồn của Tấn thịt nát xương tan cứ như thế chết đi sống lại không biết bao nhiêu lần. Có lẽ ác nghiệp quá sâu dày hết cảnh hành hình nầy đến cảnh hành hình khác. Tấn vừa hoàn hồn trở lại sợ quỉ hành hình bằng chạy trốn vào một hố đen. Linh Hồn Tấn vừa lao vào hố đen thời không biết gì nữa bị huyền cơ luân chuyển đến tầng Địa Phủ thứ 8, khi tỉnh lại thời thấy mình đang ở gần hốc đá nghe tiếng đâm chém khắp cùng Tấn sợ quá định chun vào hốc đá nhưng nào có kịp một con quỉ lao tới tóm cổ đâm cho một nhát đem Tấn đến chảo dầu đang sôi sùng sục Tấn thấy thế gào thét kinh hãi nhưng con quỉ nào có tha ném Tấn vào chảo dầu Tấn đau quá thét lên rồi không biết gì nữa tan biến trong chảo dầu. Khi tỉnh lại Tấn thấy mình đang ở một nơi hoang vu nghe tiếng chim ưng cùng khắp Tấn vô cùng kinh hãi không biết mình đang ở đâu thời thấy bầy chim ưng bay đến con nào con nấy to lớn chúng thi nhau mổ vào Tấn rứt từng miếng thịt đau đớn quá Tấn ngất đi rồi không biết gì nữa. Cứ như thế chết đi sống lại không biết bao nhiêu lần, hết chim ưng xé xác ăn thịt, thời tới rắn, sói ăn thịt, Linh Hồn Tấn vừa Hoàn Hồn tỉnh lại thấy mình trên bãi đất trống, sợ chim ưng, rắn, sói ăn thịt, bằng lao mình đến hóc đá tối đen trốn kỳ lạ thay Linh Hồn Tấn vừa lao vào hốc đá tối đen thời không còn biết gì nữa, Linh Hồn Tấn đã luân chuyển đến tần Địa Phủ thứ 9 đến khi tỉnh dậy thấy mình đang ở một nơi âm u lạnh lẽo. Tấn nghe tiếng đao, kiếm rít lên rợn người chưa hiểu là chuyện gì thời thấy đao, kiếm từ xa bay đến đâm chém xối xả vào Linh Hồn Tấn, Tấn sợ quá gào thét thê thảm. Tấm bị đao kiếm hành hình bằm nát như tương Tấn liền chết đi Linh Hồn tan biến vào hư không, khi hoàn hồn sống dạy nghe tiếng tên bay rợn người Tấn vô cùng kinh hãi Tấn nhìn quanh bốn phía nhưng không có nơi nào ẩn núp còn đang hoang man sợ hãi thời hàng trăm mũi tên bay tới thi nhau cắm phặp vào Linh Hồn của Tấn. Tấn gào thét đau đớn thời không còn biết gì nữa, khi tỉnh dậy thấy mình không còn là Tấn mà hóa thành Ngạ Quỉ bụng to như núi cổ nhỏ như kim, ăn không được đói khạc ra lửa, đau đớn vô biên chết đi sống lại không biết là bao nhiêu lần, ác nghiệp tự hiện ra rồi tự xử lấy. Cứ như thế chết đi sống lại không biết bao nhiêu lần Tấn đau đớn vô cùng nhất là thân Ngạ Quỉ đói quá bốc lửa đốt thân mình ra tro, trước khi chết Ngạ Quỉ Tấn thấy màu xanh mờ nhạc hiện ra liền ẩn mình vào đó. Tức thời Linh Hồn luân chuyển đầu thai. Khi tỉnh dậy thấy mình là một heo người ta nuôi cho mau lớn rồi đem xẻ thịt. Cứ như thế mỗi lần chết đi luân chuyển đầu thai thành thập súc. Chó, Mèo, Heo, Bò, Trâu, Dê, Lừa, Ngựa, Gà, vịt, trả nợ cho con người. Làm ma Heo, ma Mèo, ma Chó, ma Bò, ma Trâu, ma Gà ma Vịt, ma ngựa, ma Dê, trải qua hàng trăm nghìn kiếp.
Nói về Tạ bị tai nạn giao thông chết đi Linh Hồn không bị sa đọa xuống các tầng Địa Phủ, ở lại nhân gian làm Ma. Sống nơi Âm Cảnh dưới sự cai quản Nhà Nước Tâm Linh Văn Lang.
Một hôm Ma Tạ nghe nói hôm nay có vị quan cấp cao trong Nhà Nước Tâm Linh Văn Lang, về Bổn Xứ giảng đạo cho các vong hồn Ma hiểu về Đạo Làm người cho các Ma nghe.
Các vị Thần Bổn Xứ dẫn các vong hồn ở nhiều Bổn Xứ đến nghe. Vị Quan Văn thuộc hàng cấp cao trung ương nhìn các vong hồn nói. Sở dĩ các vong hồn chưa đầu thai làm người được. Là vì chưa đủ đức tánh để được làm người. Đức tánh làm người rất nhiều nhưng căn bản thời có mười đức tánh.
1, là có Nhân, 2- là có Nghĩa, 3- là biết Lễ, 4- là có Trí, 5- là có Tín, 6- là có Trung, 7- là có Hiếu, 8- là biết Hòa Thuận, 9- là biết Liêm Sỉ, 10- là lòng Quảng Đại, Bao Dung. trong mười đức tánh nầy chỉ cần được năm thời đủ nhân duyên đầu thai làm người trở lại làm người. Không cần theo thứ tự. Còn như chỉ được một hai Đức Tánh làm người phải chịu làm Ma đến hàng nghìn năm cũng chưa được đầu thai làm người trở lại.
Nếu làm ác đánh mất tánh làm người phải chịu luân hồi đầu thai trở lại loài Cầm Thú. Nếu đi vào đại ác phải chịu sa đọa xuống các tầng Địa Phủ chịu nhiều sự hành hình đau đớn. Vì vậy làm Ma Âm Cảnh cũng phải biết tu hành. Tự giải thoát Linh Hồn của mình ra khỏi tam đồ khổ luân hồi Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh.
Linh Hồn Ma Tạ liền quỳ xuống thưa đại nhân kẻ Dương Gian, người Âm Cảnh không nói chuyện với nhau được làm sao mà khuyên người Dương Gian làm lành tu hành theo Đạo Làm Người. Nhân Luân Hiếu Nghĩa, còn ở nơi Âm Cảnh rất khó tu hành vì chỉ là Hồn Ma. Không có thân xác tiểu thiên vũ trụ nên Linh Hồn tiến hóa rất chậm, không như người ở Dương Gian. Có thể nói ở trần gian Linh Hồn mang xác thân tiểu thiên vũ trụ tu một ngày bằng dưới Âm Cảnh tu cả năm. Thật khó cho những Linh Hồn Ma tu giải thoát.
Vị Quan cấp cao trong Nhà Nước Tâm Linh Văn Lang nói. Linh Hồn Ông đã có tấm lòng quản đại, vì những Linh Hồn Ma mà hỏi ta như vậy. Ta sẽ vì Ông mà nói. Linh Hồn Ma có thể mượn xác trần ở những Linh Hồn khờ khạo mang nhiều Âm Chất Nặng Về Âm Khí. Nhập vào xác nầy mà dạy đạo con người. Như ta thấy nhiều Hồn Ma nhập xác con người mượn danh Ông nầy Bà nọ, người trần tục nào có biết nên nghe theo làm theo. Nhờ người trần tục nghe theo làm theo tu nhân tích đức, người trần hưởng bảy Hồn Ma nhập vào người dạy dạo hưởng được ba, nên mau đầu thai làm người trở lại. Hoặc siêu sanh về Non Tiên Cực Lạc sống an vui hạnh phúc.
Vị Quan nói Ta thấy ngươi đã thành tựu năm đức tánh cơ bản Đạo Làm người, không bao lâu ngươi sẽ đầu thai trở lại làm người, nhưng phải chịu sự nghèo khổ vì kiếp trước khi còn sống nơi Dương Gian ngươi đã làm nhiều chuyện thất đức.
Vị Quan Cao Cấp Nhà Nước Tâm Linh Văn Lang giảng Đạo xong thời trở về Trung Ương Nhà Nước Tâm Linh văn Lang. Những vị Ma nghe lời dạy Vị Quan Cao Cấp Nhà Nước Tâm Linh Văn Lang. Tu hành làm lành mau thành chính quả nên thường hay xuống điển, cũng như nhập xác người truyền dạy Đạo đức cho con người.
Đã có mặt phải, thời cũng có mặt trái. Có những Hồn Ma vì ham sự cúng dường đồ ăn thức uống, nên nhập xác người trần giả ra Ông nầy Bà nọ, không truyền dạy Đạo Đức Chân Chính mười đại Đức Tánh chủ lực của Lương Tâm, lôi kéo người trần đi vào ác đạo làm chuyện phản ngược lại Đạo Đức Lương Tâm, tức là đi vào Bất Nhân, Bất Nghĩa, Bất Trung, Bất Hiếu, Bất Trí, Bất Tín, Vô Lễ với Cội Nguồn. Chia bè rẽ phái, không có Lòng Bao Dung Độ Lượng. Xúi dục cúng dường cho nhiều để hưởng thụ. Những Hồn Ma nầy khó mà thành chính quả không còn tính người tức là đánh mất Lương Tâm phải bị sa đọa xuống các Tầng Địa Phủ.
Nói Tóm Lại: Làm người mà mất đi tánh người, những Đức Tánh Lương Tâm căn bản. Khi mãn kiếp người thời phải chịu luân hồi trở lại súc sanh, hoặc làm Ma, hoặc làm quỉ, hoặc sa đọa xuống các tầng Địa Phủ.
Còn những người đã thành Nhơn Đạo, Đạo Làm Người thành tựu, mười Đại Đức Tánh của Lương Tâm. 1- là có Nhân, 2- là có Nghĩa, 3- là có Lễ, 4- là có Trí, 5- là có Tín, 6- là có Trung, 7- là có Hiếu, 8- là có Hòa có Thuận, 9- là biết Liêm biết Sĩ, 10- là có tấm lòng Quảng Đại Bao Dung. Nhơn Đạo đã thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa cũng chính là đây. Nếu biết hướng dẫn nhân loại con người trở về Cội Nguồn tôn thờ Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời, ba ngôi tối cao vũ trụ, cũng như tu theo Đạo Làm Người, Nhơn Luân Hiếu Nghĩa, thời trở thành Phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Tổ, Thần Tổ, Chúa Tổ, cũng như làm Vua làm Chúa các cõi nước Trời, gần Trời an vui tự tại.
86. QUAN VIÊN NGOẠI
PHẦN 1
Ngày xửa ngày xưa có một cậu con trai nhà nghèo họ Võ tên là Kim Khôi, cha mất sớm chỉ còn người mẹ. Vì nhà nghèo Kim Khôi không có điều kiện để học hành.
Cách nhà Kim Khôi không xa có thầy Tô Sinh nổi tiếng văn võ song toàn nhất là võ nghệ cao cường. Nguyên thầy Tô Sinh là một vị quan võ triều đình về hưu về quê mở trường dạy văn lẫn võ. Tô Sinh quê ở Diễm Châu, cảnh làng quê nơi đây trù phú đất đai màu mỡ, sông rạch chằng chịt, nguồn nước lúc nào cũng thừa tưới cho những cánh đồng, ngô, lúa, sắn, khoai tốt xanh bát ngát, Lũy tre đường làng quanh co uốn khúc, những hàng cau thẳng tắp trước nhà, làm tăng thêm sự êm ả thanh bình khói lam lan tỏa sớm chiều, những cây dừa dang tay đánh nhịp như gọi mời những đám mây lan thang bay về những ngọn núi xa xa. Bức tranh quê đẹp như mơ ai đến đây một lần thời không thể nào quên được.
Kim Khôi vốn tánh ham học nhưng vì nhà nghèo, Kim Khôi đành phải lén lút đến trường nhìn xem những môn sinh học văn học võ được hơn năm.
Cho đến một hôm Kim Khôi ngồi ngoài bờ rào lùm bụi cách xa cửa sổ lén nhìn vào trong lớp ráng nhớ từng chữ, từng câu, cũng như len lén nhìn các môn sinh tập võ. Không may cho Kim Khôi một chiếc xe ngựa từ xa vừa đến cổng ngõ, phát hiện Kim Khôi núp trong bụi vạch lá chăm chú nhìn vào trong trường. Từ trên xe ngựa một cậu con trai ăn mặc sang trọng bước xuống xe nói với tên đánh xe, ngươi đến bắt thằng nhìn lén học võ, học văn đến đây cho Ta.
Tức thời tên đánh xe chạy tới bụi rậm lôi cổ Kim Khôi đến trước mặt cậu con trai sang trọng. Nói thưa cậu chủ xử lý thế nào. Bỗng nghe chát chát mấy cái té lửa, Kim Khôi sợ quá xin cậu chủ tha mạng. Cậu con trai giàu sang cũng cùng trang lứa với Kim Khôi 13 tuổi. Nghe tiếng la hét ngoài cổng ngõ bọn môn sinh đệ tử học trò từ trong sân trường ùa ra xem.
Thấy Kim Khôi quỳ xin tha thứ, bằng hỏi chuyện gì vậy Cậu Chủ. Cậu Chủ của đám học trò nầy chính là Tô Khảo con của thầy Tô Sinh.
Tô Khảo nói thằng nầy lén học văn, học võ. Kim Khôi sợ quá nói xin tha mạng tôi không dám nữa, trong đám học trò có tay Đại Nháo là công tử nhà giàu nhất Diễm Châu không nói không rằng đá lia đá lịa vào Kim Khôi rồi nói đó mới là mở đầu, sau đó hắn lấy hơi ra sức đá tới tấp vào Kim Khôi.
Kim Khôi bị đá lăn cù cù cả bọn môn sinh học trò cười lên thích thú. Tô Khảo nói thôi tha cho nó đi.
Kim Khôi trở về nhà mình mẩy đau nhức ê ẩm ôm mặt khóc nghĩ buồn cho số phận của mình.
Một hôm Kim Khôi ra đồng bắt ốc thấy một người thương tật đầy mình nằm bất động. Kim Khôi bước đến xem người ấy còn sống hay chết, thời nghe người ấy nói ta khác nước quá. Kim Khôi liền lấy bầu nước đeo bên mình cho Ông Ta uống, không bao lâu thời người ấy tỉnh lại nhìn Kim Khôi không nói gì, người bị thương đầy mình nhìn thấy không xa trên sườn đồi có cái chòi liền đứng lên gượng đi đến đó. Kim Khôi cũng đi theo.
Vào trong cái chòi người bị thương đầy mình lấy trong minh ra một chiếc lọ nhỏ, lấy ra hai viên thuốc nuốt vào bụng, ngồi vận công dần dần hồi phục trở lại.
Người bị thương nhìn Kim Khôi một hồi phát hiện ra căn cốt thượng thừa thời không khỏi kinh ngạc, hàng triệu người may chỉ được một, bằng nghĩ thầm trong bụng âu đây cũng là cơ duyên ông trời sắp xếp cho Ta gặp được cậu bé nầy. Ta chỉ sống được một tháng nữa thôi, để thăm dò Kim Khôi người bị thương hỏi.
Cậu bé tên gì nhà con ở đâu, sao trông con có vẻ nghèo khổ vậy. Kim Khôi liền kể lại gia cảnh của mình cho người bị thương nghe. Kim Khôi nói con tuy nghèo nhưng cảm thấy vui, vì hàng ngày ra đồng bắt cua bắt ốc về cho Mẹ ăn, người bị thương nghe Kim Khôi nói thế lấy làm cảm động nói con quả là người có hiếu.
Người bị thương nhìn Kim Khôi rồi hỏi hình như con có học võ thầy của con là ai vậy. Kim Khôi nghe người bị thương hỏi thế liền kể lại câu chuyện đi học lén võ công bị người ta bắt được đánh cho một trận, con không dám đến đó học lén nữa. Người bị thương nói con hãy biểu diễn những gì con học được cho ta xem. Kim Khôi liền biểu diễn những đường quyền, những thế võ bài bản như người điêu luyện vài năm, người bị thương không khỏi kinh ngạc nói con chỉ xem lén mà học được như thế nầy sao? Kim Khôi nói con chỉ nhìn sơ qua là nhớ ngay. Duy có nội công tâm pháp thời con không biết. Người bị thương khen con quả là người kỳ tài có trí nhớ khác thường chỉ nhìn người ta tập luyện mà cũng học ra trò như vậy.
Bằng nói với Kim Khôi tiểu tử kia con có muốn học võ không? Nghe đến học võ Kim Khôi vô cùng mừng rỡ nói con rất muốn học, người bị thương nói Ta sẽ nhận con làm đồ đệ. Kim Khôi là người rất thông minh bằng quỳ lạy bái sư. Người bị thương không khỏi khen thầm, đúng là con rồng trong loài người. Người bị thương phất tay một luồng kình lực tuôn ra đỡ Kim Khôi dậy. Kim Khôi vô cùng kinh hãi tưởng đâu là yêu quái. Người bị thương thấy vậy nói con đừng sợ. Sư Phụ không phải là yêu quái đâu mà là Võ Lâm Nhất Quái.
Sư Phụ bị hai thằng học trò làm phản bỏ chất độc vào thức ăn đầu độc giết sư phụ định cướp lấy võ lâm tuyệt học mà Sư Phụ vô tình tìm thấy nơi thạch động.
Sư Phụ vì trúng độc nên không đánh lại hai tên nghiệt súc ấy may nhờ Sư Phụ có kinh công tuyệt học, không truyền dạy cho chúng vì biết chúng sau nầy sẽ tạo phản, nên Sư Phụ mới thoát chết, để tránh khỏi sự truy sát Sư Phụ đã vượt qua hàng trăm dặm mới đến được nơi đây. Kim Khôi nghe Sư Phụ nói thế lấy làm kinh ngạc bằng nói trên đời nầy lại có những học trò phản thầy đã là có tội, còn hại cả thầy thời thế nào cũng bị trời tru đất diệt. Võ Lâm Nhất Quái nói khi con học thành tài thay thế Sư Phụ trừ khử chúng bớt đi mối họa cho võ lâm. Kim Khôi nghe Sư Phụ nói thế liền vân dạ.
Nhất Quái sai Kim Khôi vào thị trấn mua lương thực, cũng như loại thuốc cầm cự với chất độc sống được ngày nào hay ngày nấy.
Nói về Mẹ của Khôi là Bà Khôi thấy trời sắp lặn mà Khôi chưa về lấy làm lo lắng đứng ngồi không yên hay bị người ta đánh bà không dám nghĩ nữa.
Mẹ của Khôi định đi tìm Khôi thời thấy Khôi trở về bằng nói cái thằng nầy mầy làm tao phải lo lắng. Khôi nói hôm nay con không bắt ốc bắt cua mà đi chăn dê cho một ông chủ, ông chủ trả công cho con cũng khá với số bạc nầy Mẹ ở nhà mua gạo để ăn. Cứ một tháng con trở lại nhà một lần. Bà Khôi nhìn thấy số bạc liền nói với số bạc nầy Mẹ chi tiêu ba tháng cũng chưa hết.
Mới mờ sáng Kim Khôi đã có mặt nơi chòi tranh, có lẽ vì không còn thời gian Nhất Quái liền dạy nội công tâm pháp cho Khôi. Khôi học tới đâu nhớ tới đó. Với nội công tâm pháp dù cho học cả tuần cũng không nhớ hết, thế mà Kim Khôi chỉ học có một giờ là thuộc làu không sót một câu một chữ. Có thể nói Nhất Quái truyền tới đâu Kim Khôi nhớ tới đó Nhất Quái khen thầm đúng là bậc kỳ tài. Nhất Quái dốc sức truyền dạy cho Khôi chưa đầy một tháng mà Khôi đã học xong nội công tâm pháp, bộ pháp, kiếm thuật, kinh công. Những võ công cả đời Nhất Quái nghiên cứu cũng như tìm tòi học hỏi sáng chế ra thế mà Kim Khôi chỉ trong vòng thời gian ngắn tiếp thu tất cả.
Nhất Quái hiểu rõ chỉ còn ít thời gian nữa là chất độc tái phát bằng đêm cuốn Bí Kiếp Võ Lâm Tuyệt Học ra truyền dạy cho Kim Khôi. Nhờ sự chỉ dạy của Nhất Quái Kim Khôi mau lãnh hội những võ công tuyệt thế trên đời. Võ Lâm Nhất Quái nói Thầy chưa có cơ hội tập luyện tuyệt học trong võ lâm bí kiếp. Nhưng Thầy đã nghiên cứu thấu đáo trong võ lâm bí kiếp đã truyền dạy hết cho con. Chỉ còn con chịu khó tu luyện thời không mấy người trên võ lâm là đối thủ của con.
Sau khi thầy mất con đem xác thầy đến một nơi ít người lai vãng chôn thầy nơi đó. Con hãy mau ngồi xuống để Thầy khai thông kinh mạch huyệt đạo cho con. Con theo tâm pháp thượng thừa trong bí kíp vận hành chân khí.
Nhất Quái ngồi sau lưng Kim Khôi vận thần công truyền vào người Khôi đã thông huyệt đạo kinh mạch. Còn Khôi theo tâm pháp bí quyết vận hành chân khí, không biết là bao lâu đốc kinh, nhâm kinh thông suốt toàn thân Kim Khôi cảm thấy nhẹ như bay.
Thấy bàn tay Sư Phụ không còn trên lưng mình nữa Kim Khôi quay đầu nhìn lại thời Sư Phụ đã về trời. Kim Khôi vô cùng đau xót ôm Sư Phụ mà khóc một hồi lâu. Khôi nhớ lời Sư Phụ dạy là đem thân xác Sư Phụ đến thâm sơn cùng cốc an tán.
Kim Khôi tháo cái túi Sư Phụ thường mang trong mình ngoài cuốn bí kíp ra còn có vàng bạc khá nhiều nhất là ba viên minh châu sáng lấp lánh trông đẹp mắt vô cùng. Kim Khôi nghĩ hãy đem số vàng bạc nầy về cho Mẹ rồi trở về đây mang xác Sư Phụ đi an tán. Kim Khôi trở về nhà thấy Mẹ dường như khỏe hẳn lên nhờ vào số bạc Khôi để lại.
Bà Khôi thấy con về thời mừng rỡ nói Mẹ biết con hôm nay sẽ về vì hết tháng. Mẹ đã mua áo quần cũng như mấy con gà làm thịt cho con ăn. Ăn cơm xong Khôi ở lại với Mẹ một lát rồi nói. Ông chủ sắp đi xa con phải có mặt đi với Ông Chủ. Ông chủ trả cho con số tiền thật lớn, con phải đi xa không biết chừng nào sẽ về Kim Khôi trao cái túi cho Mẹ nói đây là số vàng bạc ông chủ đưa cho con. Bà Khôi nhận lấy cái túi mở ra xem thời không khỏi kinh ngạc la lên, có cả vàng ít lắm cũng vài chục lượng, bà mừng quá nói cả đời Mẹ chưa bao giờ có một chỉ nói gì đến một lượng, với số vàng bạc nầy Mẹ con ta sanh sống đầy đủ cả đời, còn dư thừa sau nầy cưới vợ cho con. Kim Khôi nói. Chuyện tương lai còn dài con đi chuyến nầy hơi lâu. Nhà mình ở đây lẻ loi đói rách thời không ai để ý, chỉ hơi thong thả một tí là có người dòm ngó. Mẹ có thể mua nhà trên thị trấn để ở kiếm việc nhẹ làm, như mua bán chạy chợ, đợi con trở về sẽ có tiền bạc nhiều hơn.
Kim Khôi lấy cái rựa trong nhà mang theo từ giả Mẹ trở lại túp lều cũ kỷ cỏng Sư Phụ phi thân vùn vụt lao đi. Kim Khôi vô cùng kinh hãi mỗi lần nhích chân là mỗi lần thân hình Kim Khôi lao đi như tên bắn có lẽ nhờ mấy mươi năm công lực Sư Phụ truyền sang, Kim Khôi vượt qua hố sâu rừng thẳm đi cả ngày lẫn đêm tìm nơi không có chân người đi đến. Tiếng chim kêu vượn hú, sói tru, hổ gầm, Kim Khôi không gì sợ hãi trước mắt Khôi là rừng núi bạt ngàn, có một khu thung lũng hoa quả sum sê, cảnh quang xinh đẹp vô cùng đúng là nơi yên nghĩ muôn thu. Kim Khôi bằng an tán Sư Phụ tại đó.
An Tán Sư Phụ xong đâu vào đấy chặt cây dựng lều ở bên cạnh mộ sư phụ, canh giữ không cho thú rừng đào xới. Kim Khôi đói thời ăn trái cây, khác thời uống nước suối ba năm trôi qua Kim Khôi luôn ở cạnh Sư Phụ, ngày đêm tập luyện võ công. Khôi đã luyện đến chiêu cuối cùng trong Bí Kiếp Võ Lâm Tuyệt Học. Để thử sức mạnh Võ Lâm Tuyệt Học Thái Cực Thần Công Kim Khôi vận bảy thần công lực với chiêu Phá Thạch Khai Thiên đánh vào tản đá ầm một tiếng kinh thiên động địa tản đá bể nát. Kim Khôi cũng phải kinh hãi thảo nào hai tên học trò muốn chiếm đoạt cho được.
Để thử kiếm thuật đạt đến đâu Kim Khôi chặt một cành cây thay kiếm thi tuyển chiêu Lôi Âm Phong Vũ trong võ lâm tuyệt học chỉ thấy cành cây rít gió nghe đến rợn người biến hóa khôn lường lúc thời như sấm sét, lúc thời như mưa sa bão táp, lúc thời cuồn nộ như sóng gào, Lúc thời êm như dòng nước chảy, đúng là Võ Lâm Tuyệt Học, ai cũng muốn thuộc về mình. Võ Lâm Nhất Quái nổi tiếng với môm tuyệt học Ưng Trảo Công Kim Khôi muốn thử môn võ công tuyệt học nầy liền vận thần công chụp vào tản đá năm luồn chỉ phong xé gió bay ra những tiếng như sét đánh vang lên tản đá liền thủng năm lỗ lớn. Kim Khôi lại một lần nữa kinh hãi, với võ công nầy Sư Phụ đã làm khiếp đảm giới võ lâm nổi tiếng là Võ Lâm Nhất Quái.
Ba năm rồi còn gì ba năm không trở về nhà Kim Khôi liền đến mộ thầy khấn rằng con sẽ trả thù cho Sư Phụ thanh trừ hai tên phản phúc tạo phản trừ hậu họa cho đời. Khôi liền từ biệt Sư Phụ vượt qua bao đèo dốc hố sâu núi rừng trở về Diễm Châu. Khôi giờ đây đã trở thành chàng thanh niên khôi ngô tuấn tú, khôi về đến nhà thấy cây cỏ um tùm thời cũng đã biết Mẹ đã bỏ đi mấy năm. Khôi nhớ lại năm xưa Mẹ lên thị trấn Diễm Châu mua nhà để ở, thị trấn Diễm Châu không thua gì thị xã. Khôi liền lên thị trấn tìm mẹ tìm suốt mấy ngày đi khắp thị trấn nhưng tìm hoài không thấy.
Khôi chợt thấy một người phụ nữ giống Mẹ đi vào một con hẻm Khôi liền chạy theo thời ra người đó là Mẹ của mình. Hai mẹ con gặp nhau mừng mừng tủi tủi. Bà khôi nhìn Kim Khôi không phải là Khôi nhỏ bé ngày xưa mà là chàng thanh niên khôi ngô tuấn tú Bà lấy làm vui sướng. Bà nắm tay Khôi dắt vào một căn nhà nhỏ, trong nhà chẳng có gì ngoài gường chiếu của Bà Khôi.
Khôi nói sao Mẹ không mua nhà ngoài đường lớn để ở, mua chi căn nhà chật chội trong hẻm rất khó tìm. Bà Khôi nói Mẹ để dành tiền cưới vợ cho con nên không dám tiêu xài, hàng ngày xuống chợ mua rau cũ bán lại kiếm sống qua ngày.
Thấy mẹ quá cực khổ Khôi nói con sẽ tìm mua căn nhà ngoài đường phố Mẹ muốn buôn bán gì thời mở ra buôn bán làm ăn có đồng ra đồng vào cho vui vì tánh Mẹ không chịu ở không. Bà Khôi nói mua căn nhà ngoài đường không phải là ít tiền đâu nghe đâu phải mấy chục cây vàng. Khôi nói Mẹ có biết chỗ nào mua bán châu ngọc lớn không. Bà khôi nói Mẹ có biết một chỗ mua bán vàng bạc châu ngọc rất lớn Bà liền dẫn Khôi đến chỗ đó. Ông chủ nhìn mẹ con Khôi trông có vẻ nghèo khổ bằng nói hai mẹ con tới lộn chỗ rồi.
Khôi liền nói không tới lộn chỗ đâu mà là tới bán viên minh châu. Ông chủ cửa hàng vô cùng kinh ngạc hỏi lại đến bán minh châu, thay cho câu trả lời Khôi liền lấy ra một viên minh châu to lớn phát tỏa hào quang. Ông chủ quán đứng nhìn sửng viên minh châu tỏa ánh sáng màu hồng, cả đời ông cũng chưa bao giờ nhìn thấy. Ông nhìn một hồi lâu rồi nói cậu bán với giá bao nhiêu. Khôi hỏi lại ông chủ mua với giá bao nhiêu? được giá thời tôi bán không được giá thời tôi đi chỗ khác. Ông chủ nhìn Khôi ngẫm nghĩ trông có vẻ nhà quê nhưng không phải tay vừa.
Như sợ Khôi đi chỗ khác Ông Chủ tiệm vàng nói năm mươi lượng vàng ấy là tôi đã mua giá cao, không còn chỗ nào mua cao hơn tôi đâu. Khôi giật cả mình viên minh châu hồng ngọc có giá đến như vậy sao. Khôi làm bộ nói tôi cứ tưởng ông chủ trả giá sáu bảy chục lượng vàng lá ít đằng nầy ông chủ chỉ nói có năm mươi lượng làm sao tôi bán được. Khôi làm bộ định bỏ đi ông chủ bằng kêu lại nói thôi sáu chục lượng vậy. Bà khôi trố mắt đứng nhìn sự mua bán giữa hai bên. Khôi nhận sáu mươi cây vàng bước ra khỏi tiệm, nghe ông chủ lẩm bẩm nói với viên minh châu, quả là hiếm quý chắc gì Vua có.
Mẹ con Khôi vừa ra khỏi tiệm một đổi khá xa thời có hai tên lạ mặt theo sau, khi đến chỗ vắng người hai tên lạ mặt lao lên phía trước chận đầu hai mẹ con Khôi lại nói đưa hết số vàng ra đây thời còn mạng. Khôi nhìn hai tên lạ mặt nói ăn cướp giữa ban ngày không sợ người ta bắt sao. Hai tên lạ mặt rút dao ra nói đưa vàng đây. Khôi nói ai sai hai ngươi làm việc nầy hai tên lạ mặt lao tới đâm vào Khôi nói ta định không giết người, nhưng số ngươi đã hết, Mẹ Khôi kinh hoảng la lên cướp cướp, hai tên lạ mặt đâm vào Khôi không trúng, đâm mười mấy lần cũng không chạm được chéo áo của Khôi. Lúc nầy người ta đã chạy tới hai tên cướp đã tẩu thoát bỏ đi. Có người hỏi có phải hai mẹ con từ tiệm vàng đi ra không? Bà Khôi trả lời đúng vậy một người đàn ông nói thảo nào mà bọn cướp chẳng đánh hơi theo hai mẹ con bà, hai mẹ con bà hết sức cẩn thận đề phòng bọn cướp khi về đến nhà cũng vậy không khéo thời toi mạng như chơi. Bà Khôi nghe người đàn ông nói thế lấy làm sợ hãi.
Quả không sai giữa đêm khuya bọn chúng đến gõ cửa Bà khôi vô cùng sợ hãi, Khôi bằng nói để đó cho con Khôi bằng mở cửa thời thấy ba người trong đó có hai người chận đường cướp vàng của mình. Khôi nói các ngươi nhầm nhà rồi tôi không hề quen biết các ngươi. Người to con mặt hơi đen nói đưa vàng đây cho ta thời ta để yên cho hai mẹ con ngươi sống bằng không thời chết cả hai. Khôi nói vàng trong người ta ngươi đến đây mà lấy. Tên to con mặt hơi đen nói ta biết ngươi cũng có chút ít võ nghệ những gặp Hắc Beo ta thời ngươi chẳng ra gì cả bằng cầm dao lao tới đâm cho Kim Khôi một dao.
Kim Khôi không cần né tránh gì cả vận Thái Cực Thần Công hất văng tên to con mặt đen bảy tám mét trầy tróc mặt mày khiếp hoảng la lên ma ma cong giò chạy thục mạng Kim Khôi nhìn theo bụm miệng cười. Mẹ của Khôi nảy giờ núp trong xó cửa thấy Kim Khôi tài giỏi như vậy mừng thầm.
Khôi mua căn nhà ngoài đường lộ đông đúc dân cư qua lại thuận tiện cho việc buôn bán làm ăn chỉ mất 40 lượng vàng. Khôi sợ Mẹ cực khổ bằng thuê người ở. Mẹ Khôi buôn bán nhỏ có đồng tiền ra đồng tiền vào đời sống ổn định không lo miếng ăn cái mặc nữa.
Một hôm Khôi nhìn thấy một xe ngựa sang trọng chạy qua nhà, Khôi hỏi xe ngựa kia là của ai vậy, Mẹ Khôi nói xe ngựa ấy là của con trai thương gia Tấn Lợi tên là Đại Nháo, ở Diễm Châu nầy ai mà không biết. Không những giàu có mà võ công cao cường đánh bại hơn mười võ sĩ, danh tiếng lừng lẫy. Bao cô gái chết mê chết mệch bộ vó hào hoa của hắn, Khôi nói té ra là hắn, Mẹ Khôi nói con quen biết hắn sao? Khôi làm thinh không trả lời.
Một hôm Khôi đi trên đường phố thấy một tốp thanh niên khá đông trạc tuổi của Khôi, lời qua tiếng lại của tốp thanh niên, Khôi liền ồ lên một tiếng thì ra đây thầy dạy văn khá giỏi có nhiều học trò đỗ đạt cao ra làm quan đến chức quan Tri Phủ, Tri Huyện. Tiền học không phải là rẻ mỗi tháng mỗi lượng vàng, chỉ có con nhà giàu có tầm cỡ mới học nổi Khôi nghe có người tài liền xin vào đó để học. Cũng may là lớp học khóa mới. Khôi học được hai năm đến năm thứ ba cũng là năm cuối của niên khóa. Ở vào năm cuối nhiều nhân tài xin vào để học. Trong số người xin vào học có Tô Khảo, Đại Nháo, Ba Nhí, Bốn Giò, đều là học trò của thầy Tô Sinh. Thầy Tô Sinh cũng có dạy văn nhưng muốn thi đổ trạng thời phải tìm thầy cao hơn nữa.
Kim Khôi giờ đây đã khác không như hồi còn nhỏ trông khôi ngô tuấn tú khác thường, vì có tiền Mẹ Khôi sắm cho Khôi những bộ quần áo đắc giá không thua kém gì con nhà giàu nên không ai dám xem thường Khôi.
Học được mấy tháng Khôi lúc nào cũng tránh né bọn Tô Khảo, Đại Nháo, Ba Nhí, Bốn Giò. Một hôm Khảo nghe chúng bàn tán sao tao thấy tên kia quen quen quá không biết là gặp ở đâu. Bốn Giò nói tên thằng ấy là Khôi. Tô Khảo nhớ lại năm xưa nói không lẽ là hắn. Đại Nháo hỏi hắn nào Tô Khảo nói thằng học lén năm xưa bị tụi mình bắt được đánh cho một trận, Đại Nháo nói không phải đâu tên Khôi trước kia nghèo xơ nghèo xác làm gì đủ tiền vào học ở đây. Một hôm tan lớp Khôi lật đật ra về thời bị một bàn tay nắm lại nói hình như bạn muốn né tránh chúng tôi.
Không thể né tránh được Khôi liền cúi đầu nói xin các huynh tha lỗi cho vì gia đình có việc Đại Nháo bóp mạnh một cái Khôi la lên đau quá gãy tay mất xin các huynh tha cho. Đại Nháo nói thằng nầy không biết võ công. Khi ấy có một người đi đến thôi đừng làm khó dễ người ta nữa, người lên tiếng ấy là một người trung niên.
Tô Khảo nói thì ra là Thúc Thúc. Khôi thoát khỏi nanh vuốt của kẻ háo thắng chắp tay thi lễ nói cảm ơn đại hiệp. Người ấy nhìn sửng Kim Khôi nói quả là một nhân tài hiếm thấy nói xong người ấy bỏ đi. Đại Nháo nhìn theo Khôi nói thằng ấy mà làm nên trò trống gì.
Học xong niên khóa Khôi không đi thi mà còn nói với Mẹ con phải đi xa một chuyến xong con về sống với Mẹ không đi đâu nữa. Bà Khôi hỏi con trở lại làm cho ông chủ nữa phải không Khôi làm thinh không trả lời.
Kim Khôi từ giả gia đình nhắm hướng Đài sơn cởi ngựa đi cả ngày lẫn đêm chẳng bao lâu thời tới. Cảnh đài sơn núi rừng trùng điệp hai tên phản phúc biết ở nơi nào mà tìm kiếm. Kim Khôi thả ngựa xuống núi còn mình thời băng rừng lội suối đến đi sâu vào Đài Sơn thời bỗng nghe tiếng quát chói tai tức thời thấy hai người đầu tóc rối bù bốn con mắt sáng quắc trông ghê rợn thằng nhóc kia ngươi là ai mà dám đến đây. Có lẽ ngươi đã chán sống, thôi thì ta đưa ngươi về âm phủ vậy. Kim Khôi quát có phải hai người là hai tên Ác Lai Ác Báo không? Hai người nghe xong cười lên ghê rợn thì ra lão già ấy đã chết ngươi có phải là đệ tử của lão già ấy không? Kim Khôi nói phải thời sao không phải thời sao. Nếu phải thời đưa bí kiếp ra đây ta tha cho toàn thây. Bằng không hừ hừ nát như tương, Kim Khôi thò tay trong mình lấy ra quyển bí kiếp Võ Lâm Tuyệt Học nói hai ngươi tới đây mà lấy.
Ác Lai Ác Báo nhìn thấy quyển bí kiếp Võ Lâm Tuyệt Học không ai bảo ai lao tới nhanh như chớp chụp vào quyển bí kiếp. Kim Khôi nào để cho hai tên Ác Quỉ lấy dễ dàng như vậy với bộ pháp ảo ma né tránh. Ác Lai Ác Báo chụp hụt nói ngươi cũng khá nhưng so với ông già ấy thời ngươi thua xa. Ác Lai Ác Báo võ công không phải tầm thường lại nhiều năm chiến đấu kinh nghiệm có thừa, né đòn tấn công của Kim Khôi dễ dàng. Ác Lai Ác Báo đánh ra mỗi người mỗi chưởng chiêu thức vô cùng hiểm hóc. Kim Khôi vận thần công chống trả ầm ầm đùng đùng vang dội núi rừng, Ác Lai không để cho Kim Khôi phản đòn nhanh như chớp trảo công chụp tới Kim Khôi chưa kịp né tránh thời Ác Báo nhanh như tia chớp đánh ra một chưởng Kim Khôi bị trúng đòn liểng xiểng Ác Lai Ác Báo bồi tiếp mấy chiêu nữa Kim Khôi lúc nầy mới biết hai tên Ác Lai Ác Báo vô cùng lợi bằng dở võ học tuyệt chiêu ra đối phó. Ác Lai Ác Báo la lên thằng nhãi nầy đã học được võ công trong Võ Lâm Tuyệt Học mau nhanh chóng hạ gục nó. Thế là trận đấu khủng khiếp xảy ra chỉ phong chưởng phong gào thét dữ dội cát bay đá chạy ầm ầm đùng đùng đinh tai nhức óc. Kim Khôi liên tiếp bị trúng chưởng miệng trào máu Ác Lai cũng bị trảo công của Kim Khôi đánh trúng thủng ngực hồn du địa phủ chỉ còn Ác Báo mới bị thương nhẹ thấy Kim Khôi đứng dậy không nổi liền lao đến kết liễu sanh mạng của Kim Khôi, Kim Khôi cũng ráng hết sức bình sanh đánh ra một chiêu trong Tuyệt Học Võ Lâm chỉ nghe một tiếng rú hãi hùng nổi lên Ác Báo ngực thủng liền năm lỗ chết không kịp ngáp. Kim Khôi cũng trúng một chưởng thân hình văng xuống vực thẳm.
* * *
Hết phần 1 mời xem tiếp phần 2 Quan Viên Ngoại
* * *
PHẦN 2
QUAN VIÊN NGOẠI
Nói về Kim Khôi cũng trúng một chưởng thân hình văng xuống vực thẳm.
Đến khi tỉnh dậy mới biết mình còn sống là nhờ những dây leo chằng chịt cản lại tốc độ rơi nếu không có dây leo chằng chịt kia thời kể như tan xương nát thịt rồi. Kim Khôi bị thương quá nặng không ngồi dậy nổi. Trong lúc ấy chợt nhớ đến mẹ già ta không thể chết được bằng moi óc suy nghĩ có phương pháp nào giữ được mạng sống. Liền nhớ trong trong quyển Bí Kíp Tuyệt Học Võ Lâm có một phương pháp trị thương rất hữu hiệu. Kim Khôi tức thời vận hành chân khí trị thương, trải qua mấy ngày đêm thần công hồi phục trở lại vết thương cũng khá đi nhiều. Kim Khôi nhìn thấy những quả chín mọng bụng đói cồn cào liền hái ăn mùi thơm dìu dịu ngọt lịm thấy trong đan điền một luồng khí nóng bốc lên Kim Khôi kinh hãi tưởng là trái độc liền vận hành chân khí chống độc nào hay càng vận hành càng khỏe hẳn ra. Vết thương cũng mau chóng khá lành. Kim Khôi vô cùng mừng rỡ đói thời ăn quả chín mọng, vận công trị thương hơn nữa tháng thời khỏi hẳn nội công tăng lên gấp đôi đây là cơ hội nghìn năm Kim Khôi ở dưới tuyệt cốc tu luyện thần công được ba tháng Kim Khôi như một người khác da dẻ hồng hào đẹp không thua gì da con gái thần công cái thế hơn xưa gấp năm sáu lần quả chín quả sống cũng đã ăn hết không còn lấy gì nữa để mà ăn, bằng dở kinh công tuyệt học phi thân lên khỏi tuyệt cốc nhìn thấy hai cái xác chính là Ác Lai Ác Báo.
Kim Khôi quỳ xuống khấn vái con đã thanh trừ hai tên Ác Lai Ác Báo trả thù cho Sư Phụ. Kim Khôi cảm thấy lòng thanh thản nhẹ nhàng như đã trút được gánh nặng phi thân xuống núi tìm mua một con ngựa khác nhắm hướng Diễm Châu trở về.
Mẹ của Khôi thấy Khôi trở về thời mừng lắm nói con còn đi nữa hay thôi. Kim Khôi nói con ở nhà với Mẹ không đi đâu nữa.
Nói về Diễm Châu có quan Viên Ngoại là anh ruột của Tri Phủ Đại Nhân, một hôm từ Tri Phủ Đại Nhân trở về Diễm Châu. Đi ngang qua đầm lầy có hồ Thủy Quái rộng lớn dân chúng thường hay đánh cá nơi đây nhưng không có chuyện gì xảy ra. Quan Viên Ngoại chuyến đi ngang qua không có gì khi trở về cũng đi ngang qua Hồ Thủy Quái thời mặt hồ Thủy Quái bỗng nhiên nổi sóng tức thời một con Thuồng Luồng bay lên nuốt chửng gia nhân, quan Viện Ngoại rút gươm chiến đấu, nhưng Thuồng Luồng sức mạnh vô biên những nanh vuốt chụp tới kình lực tuôn ra ào ào cát bay đá chạy, quan Viện Ngoại đánh nhau với Thuồng Luồng một hồi. Bỗng Thuồng Luồng phun ra một luồng hung khí quan Viện Ngoại choáng váng cả mặt mày gia nhân khiếp quá la lên cái chết chỉ còn trong đường tơ kẽ tóc.
Trong lúc thập tử nhất sinh, quan Viện Ngoại thấy một bóng người phi nhanh tới quát lên một tiếng long trời lở đất. Với chiêu Ưng Trảo quái chiêu năm luồng chỉ phong xé gió trúng vào Thuồng Luồng. Con Thuồng Luồng bị thương nặng định lặng xuống nước chàng thanh niên với ảo ma bộ pháp nhanh như tia chớp chận đầu Thuồng Luồng đánh cho một chưởng ầm một tiếng long trời lở đất Thuồng Luồng rú lên một tiếng rồi ngã nhào.
Không bỏ lỡ cơ hội nghìn năm sợ kim đan tan biến mất khi Thuồng Luồng chết quan Viện Ngoại lao tới mổ bụng Thuồng Luồng lấy kim đan. Khi nhìn lại thời không thấy chàng trai thanh niên đâu nữa. Bọn gia nhân nói người ấy đã đi rồi, quan Viện Ngoại nói có hỏi danh tánh không? Thưa chủ nhân có ạ người ấy tên là Kim Khôi.
Nói về quan Viện Ngoại có cô con gái sắc nước hương trời tên là Quỳnh Nga hoa dung nguyệt thẹn, cá lặn, nhạn sa, đổ nước nghiêng thành, đức hạnh vẹn toàn cầm kỳ, thi, họa ít ai hơn. Quan Viện Ngoại ra sức truyền dạy võ công nhờ tánh thông minh hơn người Quỳnh Nga học đâu nhớ đó, lại chịu khó luyện tập tuy tuổi 17 nhưng khó người đánh bại.
Quỳnh Nga đang luyện tập võ công nghe Cha gọi liền đến gặp Cha nói Cha gọi con có chuyện gì.
Quan Viện Ngoại nói trong cái họa có cái phúc, trong cái rủi có cái may. Cha đã lấy được kim đơn nghìn năm tu luyện của con Thuồng Luồng một loại kim đơn vô cùng quý hiến, chỉ nghe kể chứ chưa nhìn thấy bao giờ. Không ngờ hôm nay nó lại ở trong tay của Cha, nếu để lâu quá nó sẽ tan biến mất. Viên Ngoại nói người uống được kim đơn nầy cho đến già vẫn còn xinh đẹp, nội công tăng lên gấp mười lần. Tuy hiện giờ võ công của con cũng khó có người đối thủ. Nhưng nếu con uống được kim đơn thuồng luồng thời như Cha cũng không phải là đối thủ của con. Duy chỉ một người Cha không dám nói là con có hơn được hay không đó là ân nhân đã cứu mạng Cha, người nầy tuy còn trẻ nhưng võ công cái thế.
Quỳnh Nga chăm chú lắng nghe nhưng không rõ Kim Khôi là ai. Quỳnh Nga cầm viên kim đơn nuốt ngay vào bụng, quan Viện Ngoại nói con mau về phòng ngồi vận công điều hòa chân khí.
Quỳnh Nga nghe theo lời Cha trở về phòng thấy trong người nóng rang một luồng chân khí nóng như lửa đốt từ đan điền tỏa lên khắp châu thân. Quỳnh Nga theo bí quyết vận hành chân khí không bao lâu thời luồng khí nóng không còn nữa vươn vai đứng dậy thấy thân hình nhẹ bổng như muốn bay lên khỏi mặt đất. Quỳnh Nga lấy làm kinh hãi cho sự diệu dụng của kim đơn. Quỳnh Nga liền chạy ra sau vườn hét lên một tiếng múa Long Vân chưởng pháp kình lực tuôn ra kinh khiếp đánh bật gốc cây ngã đổ cái ầm. Quỳnh Nga rút kiếm với tuyệt chiêu Long Vân Kiếm Pháp chém vào thân cây ba nhác thân cây bằng cái mình đứt làm ba khúc. Thân hình Quỳnh Nga bay vút lên không lượn một vòng rồi đáp xuống không tiếng động. Quan Viện Ngoại vô cùng mừng rỡ nói con đã trở thành đại cạo thủ ít người địch nổi. Quỳnh Nga mỉm cười nói bằng chàng thanh niên ấy chưa, Quan Viện Ngoại làm thinh không nói.
Quỳnh Nga là người năng động không chịu ở không hết chuyện nầy đến chuyện kia, nhất là truyền võ công cho hai tùy nữ. Quỳnh Nga nhìn hai tỳ nữ một người tên Đào, một người tên Mận người nào cũng võ công cao cường Quỳnh Nga lấy làm mừng không phụ công mình truyền dạy.
Một hôm Quỳnh Nga nghĩ đến người học võ cần có vũ khí phòng thân Quỳnh Nga, Mận và Đào chưa có nếu có cũng chỉ là kiếm thường nghe đồn ngoài phố chủ tiệm Thanh Hoàng có hai thanh cổ kiến cùng hai tỳ nữ cùng đi ra phố đến đó để mua.
Nói về Kim Khôi trở về nhà trong lòng cảm thấy vui vẻ vì đã làm được một chuyện lành. Nghĩ mình không có kiếm bằng đi ra phố tìm cửa hàng bán kiếm để mua, vô tình thấy một xe ngựa sang trọng dừng trước cửa hàng bán kiếm. Sự trùng hợp Kim Khôi cũng đến mua kiếm. Từ trên chiếc xe ngựa một người con gái xinh đẹp tuyệt trần phải nói không khác gì hằng nga giáng thế, hai người con gái theo sau cũng khá xinh đẹp. Kim Khôi đứng nhìn sững sốt quên cả đi mua kiếm. Người con gái ấy nhìn Kim Khôi nở nụ cười, nụ cười xinh đẹp làm sao Kim Khôi như kẻ mất hồn say sưa đứng nhìn, thấy Kim Khôi như kẻ mất hồn người con gái lịch sự hỏi công tử cũng đến đây mua kiếm phải không.
Hình như chủ cửa hàng cũng nhận ra người con gái xinh đẹp ấy chấp tay nói cửa hàng tôi hân hạnh được tiểu thơ Quan Viện Ngoại ghé thăm. Kim Khôi nghe bà chủ cửa hàng gọi người con gái xinh đẹp là Tiểu Thơ Quan Viện Ngoại thời trầm tỉnh trở lại. Người con gái xinh đẹp ấy nói nghe nói chủ cửa hàng có thanh cổ kiếm không biết là có thật không. Chủ cửa hàng nói đó là hàng hiếm không chỉ có một cây mà đến hai cây. Kim Khôi như lấy lại bình tỉnh nhanh miệng nói cho tôi xem thử. Chủ tiệm nói hai cổ kiếm ấy là một thanh kiếm rồng, một thanh kiếm phụng. Hai thanh kiếm đều có giá như nhau. Kim Khôi nhanh miệng nói giá một thanh kiếm là bao nhiêu? Chủ tiệm kiếm nói bảy chục lượng vàng một cây. Kim Khôi nói vàng thời tôi không mang theo chỉ mang theo hai viên bảo châu. Kim Khôi liền lấy hai viên bảo châu một viên tỏa ánh sáng màu đỏ, còn viên kia tỏa ánh sáng màu xanh lấp lánh. Không những bà chủ tiệm, mà cả người con gái xinh đẹp cũng kinh ngạc. Người con gái xinh đẹp nhìn hai viên bảo châu tỏa ánh sáng nói một viên là Huyết Long bảo Châu, một viên là Bích Linh Lục Châu, còn một viên nữa là Hồng Quang Minh Châu. Công Tử đã sở hữu được hai viên đã là hi hữu lắm rồi, chỉ cần sở hữu được một viên trong ba viên cũng đã giàu to rồi. Giá trị một viên cũng đến hai trăm lượng vàng, Kim Khôi nghe nói lấy làm kinh dị không ngờ viên minh châu có giá kinh khủng như vậy bằng nói chỉ cần một viên mua được hai thanh kiếm. Người con gái xinh đẹp nói không chỉ mua được hai thanh kiếm cổ mà còn phải đưa thêm sáu mươi lượng vàng nữa kìa. Chủ tiệm nói nếu công tử chịu đổi một viên minh châu hai thanh kiếm cổ thời tôi đổi còn đưa thêm vàng thời tôi không đổi. Kim Khôi bằng đưa viên minh châu cho chủ tiệm. Người con gái xinh đẹp nói khoang đã chủ tiệm cho coi hai thanh kiếm cổ.
Bà chủ nói không ai qua mặt được tiểu thơ đâu bằng lấy hai thanh kiếm cổ trao cho Kim Khôi. Kim Khôi chưa kịp lấy người con gái xinh đẹp nói để tôi xem cái đã, bà chủ tiệm liền trao cho người con gái xinh đẹp mời tiểu thư xem. Người con gái xinh đẹp xem xong liền gật đầu quả là kiếm tốt nhưng với cái giá bảy mươi lượng vàng thời hơi đắt. Kim Khôi trao viên minh châu cho chủ tiệm lễ phép nói nhờ tiểu thơ tôi mua được kiếm, với tôi một người một thanh kiếm cũng đủ rồi tôi xin biếu tiểu thơ thanh phụng kiếm. Người con gái xinh đẹp không khách sáo gì cả liền nhận ngay, nhìn Kim Khôi rồi nói danh tánh công tử là chi tiện bề xưng hô cho khỏi thất lễ. Kim Khôi nói tại hạ tên là Kim Khôi. Người con gái nghe hai chữ Kim Khôi thời không khỏi kinh ngạc sao lại có sự trùng hợp đến thế. Cha thường nhắc đến cái tên Kim Khôi. Sự ở đời tên trùng tên là chuyện bình thường. Kim Khôi cái tên Cha thường nhắc đến là người có võ công tuyệt thế, chắc không phải là Kim Khôi trông nho sinh như người mình gặp đây. Người con gái xinh đẹp như muốn hỏi Kim Khôi gì đó, nhưng rồi không hỏi nữa chỉ giới thiệu về mình. Thiếp tên là Quỳnh Nga còn hai người nầy một người là Mận, một người là Đào, cảm ơn Khôi Huynh đã tặng kiếm nói xong người con gái xinh đẹp lên xe đi mất Kim Khôi nhìn theo cho đến khi mất hút mới trở về nhà.
Kim Khôi trở về nhà bóng hình Quỳnh Nga cứ hiện mãi trong đầu nói rồi quên rồi tâm hồn như để ở đâu. Mẹ Khôi thấy thế liền hỏi con có tâm sự gì lúc nào cũng ngẩn ngơ, ngơ ngẩn vậy không lẽ vừa lòng cô ả nào rồi. Kim Khôi nói Mẹ có biết Quỳnh Nga không. Bà Khôi kinh ngạc Quỳnh Nga nào ý con muốn nói Quỳnh Nga con Quan Viên Ngoại. Gia thế ấy không ai với tới đâu. Hơn nữa Mẹ nghe nói Quỳnh Nga tiểu thơ xinh đẹp tuyệt trần khối người quỳ lạy được làm rể Quan Viện Ngoại. Bà Khôi hỏi con gặp Quỳnh Nga rồi sao làm sao con gặp được, người ta là cành vàng lá ngọc thôi đừng mơ tưởng nữa con. Nhà mình cũng có của thiếu gì con gái đẹp Mẹ sẽ lựa cho một cô làm vợ.
Nói về Quan Viện Ngoại muốn tìm một con rễ xứng đáng bằng ra thông báo thi tài kén rể ai là người thắng được Công Tử Quỳnh Nga thời người đó sẽ thành con rể không những được vợ đẹp còn hưởng cả gia tài giàu có nhất Diễm Châu. Cáo thị được dáng ra khắp nơi, khối chàng thanh niên trai trẻ đến khuôn viên Viện Ngoại hầu mong làm được vợ đẹp lại giàu có. Không những các chàng trai trẻ có võ công cao ở Diễm Châu mà còn các Phủ Thành tỉnh châu khác cũng đến phải nói là rất đông. Với nội dung thi kinh công, chưởng pháp, và kiếm thuật.
Nơi Khuôn Viên Viện Ngoại đã dựng lên một khán đài, trên khán đài có một tảng đá khá lớn, cách khán đài vài chục mét trồng năm trụ cột cao mỗi trụ cao 15 mét trên đầu trụ cột có treo một quả cầu, người ta cũng đón được rằng ai nhặt lấy được quả cầu thời người ấy thắng chỉ trông nhờ vào kinh công mà thôi. Còn tản đá khá lớn kia không biết để làm gì. Trước khi vào thi ba môn chính thời phải đánh thắng Mận và Đào. Đã mười ngày trôi qua không ai đánh thắng được Mận, Đào, nói gì đến thi ba môn chính thức.
Đến ngày thứ 11 từ dưới khán đài phi thân lên một chàng trai hơi béo mập người ấy không ai khác hơn chính là Đại Nháo. Đại Nháo có một lần trông thấy Quỳnh Nga thời như mất hồn mất vía quyết đến đây để thi tài hầu mong làm con rễ nhà Viện Ngoại.
Mận và Đào nhìn Đại Nháo thầm nghĩ trong bụng đây có phải là Đại Nháo hạ gục mười võ sĩ nổi tiếng Diễm Châu không tiếng tăm lừng lẫy, bằng hỏi công tử là Đại Nháo. Đại Nháo nói chính là tại hạ. Mận và Đào nói hai tôi nghe tiếng đã lâu. Đại Nháo với bản tính háu gái hai con mắt chăm chăm nhìn Mận và Đào trong lòng thầm nghĩ hai cô nầy cũng khá đẹp ta nhẹ tay một tí kẻo làm bị thương.
Mận và Đào thấy hai con mắt hau háu của Đại Nháo chăm chăm nhìn mình thời muốn cho mấy bạt tai. Không cần đợi lâu Mận và Đào liền tấn công Đại Nháo. Đại Nháo tỏ vẻ xem thường xa chiêu chống đỡ không ngờ Mận và Đào biến chiêu nhanh chóng đánh vào chỗ khác Đại Nháo tránh không kịp trúng liền mấy chiêu. Đại Nháo quá xấu hổ tánh hung dữ nổi lên quát tháo ầm ỉ xem nầy những cú đấm mạnh như trời giáng đánh vào Mận, Đào, Mận, Đào né tránh tài tình ra đòn đánh Đại Nháo không kịp thở. Chưa đầy ba mươi chiêu bị Đào, Mận hạ gục. Ở dưới khán đài nhiều người la lớn nói xuống đi xuống đi cho người khác lên. Đại Nháo bị đánh ê chề lủi thủi xuống khán đài.
Cùng lúc ấy dưới khán đài một người phi thân nhảy lên, người ấy không ai khác hơn chính là Tô Khảo con trai của thầy Tô Sinh. Mận và Đào cũng đã nghe tiếng Tô Sinh từ lâu. Thấy thân thủ Tô Sinh khá lanh lẹ biết đã gặp đối thủ, không dám coi thường Tô Sinh. Tô Sinh võ nghệ cao cường một mình đấu với Mận Đào vẫn ung dung nhiều khi có phần thắng thế Tô Sinh quát lên một tiếng trúng nầy. Đào trúng một chiêu Mận trúng một đòn may là không bị thương. Thế là Tô Sinh thắng cuộc. Từ dưới khán đài một người phi thân nhảy lên tuổi trạc hai bốn hai lăm vai đeo trường kiếm không khác gì đại cao thủ võ lâm, chấp tay nói tại hạ tên là Vũ Kiếm ở dưới khán đài nhiều người ồ lên thì ra là Vũ Kiếm ở Tuyên Châu lừng danh thiên hạ không ngờ lại còn trẻ như thế.
Quả là danh bất hư truyền qua mười chiêu Vũ Kiếm đánh bại Mận và Đào. Thế là hai người được vào vòng hai thi đấu với Công Tử Quỳnh Châu. Dưới khán đài lại một người độ tuổi hai bốn hai lăm phi thân lên khán đài thân pháp nhẹ tựa lông hồng chấp tay nói tại hạ là Tiêu Phong. Dưới khán đài nhiều tiếng ồ lên thì ra là Tiêu Phong đại hiệp lừng danh. Tiểu Đào, Tiểu Mận không phải là đối thủ chỉ trong vòng năm chiêu là bị Tiêu Phong đánh bại. Thế là ba người lọt vào vòng hai. Dưới khán đài có cả mấy mươi chàng trai cùng khán giả đến xem có đến hàng trăm nhưng không ai lên thi đấu nữa.
Nói về Kim Khôi đang lưỡng lự không biết có lên thi đấu hay không thời có một người đứng sau lưng nói Khôi Huynh không lên thi đấu sao? Kim Khôi quay lại nhìn người nói ấy thời không khỏi kinh ngạc vì người đứng sau lưng mình là chàng thanh niên mảnh mai đẹp trai còn hơn cả con gái, Kim Khôi nói không phải là tôi không thi đấu mà chờ xem còn ai thi đấu không. Chàng thanh niên ấy nói không còn người nào nữa đâu lên đi. Kim Khôi liền đi đến khán đài người thanh niên mảnh mai nhìn theo nở nụ cười tươi có thế chứ, nói xong thời đi đâu mất.
Nói về Kim Khôi phi thân nhảy lên khán đài Tiểu Đào Tiểu Mận nở nụ cười người mà tiểu thơ chờ đợi cũng đã đến. Nhất là Tô Sinh thời quá bất ngờ nhìn Kim Khôi không chớp mắt miệng lẩm bẩm té ra là mầy thằng học lén võ công.
Khi ấy ngồi bên Viên Ngoại là một chàng thanh niên mảnh mai người đã hối thúc Kim Khôi lên khán đài nói những gì với Viện Ngoại không ai nghe rõ chỉ thấy Viện Ngoại gật đầu.
Tiểu Đào Tiểu Mận nói hai tiểu nữ tôi không phải là đối thủ công tử đáng lý không cần thi đấu, nhưng vì điều lệ bắt buộc Tiểu Đào Tiễu Mận phải thi đấu với Công Tử, ra tay đi Kim khôi liền ra tay với những thế võ nhập môn Tô Sinh nhìn thấy cười nhạc chỉ có thế mà cũng lên thi đấu. Tiểu Đào Tiểu Mận ra chiêu chống đỡ Kim Khôi đánh ra toàn là những thế võ học lén nhưng kỳ ảo khôn lườn biến hóa vô biên Tiểu Đào Tiểu Mận chống đỡ muốn hụt hơi Tô sinh càng nhìn Kim Khôi ra chiêu không khỏi biến sắc còn tài giỏi hơn cả cha mình. Hình như Kim Khôi không muốn hạ gục Tiểu Đào Tiểu Mận mà cố ý truyền thụ kinh nghiệm trong giao chiến Tiểu Đào Tiểu Mận càng đánh càng hay hai bên kéo dài cả trăm hiệp Tiểu Đào Tiểu Mận dừng tay nói hai tiểu nữ chịu thua. Thế là thêm một người nữa lọt vào vòng hai. Quan Viện Ngoại đứng lên nói vòng hai là vòng thi tiển kinh công. Trên năm đầu trụ có năm quả cầu ba tiếng trống nổi lên thời cùng nhau xuất phát người nào lấy xuống trước coi như người đó thắng.
Nếu công tử Quỳnh Châu thắng thời tự chọn người vào thi đấu vòng ba tức là thi chưởng lực nội công. Dưới khán giả nghe nói đến công tử Quỳnh Châu thời ai cũng muốn nhìn cho biết mặt, người ngồi bên Viện Ngoại bằng nhảy sang khán đài tự giới thiệu về mình nói mình là anh của Quỳnh Nga. Muốn kết duyên với Quỳnh Nga thời phải thắng được Quỳnh Châu nầy. Kim Khôi nhìn Công Tử Quỳnh Châu thời không khỏi giật mình té ra người thúc mình lên khán đài là anh của Quỳnh Nga.
Dưới khán đài khán giả nhìn những quả cầu cao chót vót 15 met không phải dễ phi thân tới chỉ có cách trèo lên mà thôi. Ba tiếng trống vừa dứt năm người đồng loạt xuất phát Tô Khảo nhanh chóng lao tới phi thân lên trụ cột nhanh chóng trèo lên, Vũ Kiếm, Tiêu Phong còn nhanh hơn nữa lao tới phi thân lên mười mét nhanh chóng lao lên đầu trụ cột lấy quả cầu. Trong khi ấy người ta thấy bóng hồng, bóng xanh với kinh công kỳ diệu từ khán đài như hai con chim đại bàng bay thẳng lên ngọn đầu trụ nhặt lấy quả cầu. Nói về Kim Khôi thấy Quỳnh Châu phi thân thẳng đến đỉnh đầu trụ, thời kinh ngạc không chịu thua kém Vô Lâm Nhất Quái từng là nổi tiếng với môn kinh công tuy Kim Khôi phát xuất sau nhưng lao nhanh tới trước chụp lấy quả cầu thời bị một luồn kình phong đánh bật quả cầu lên cao Kim Khôi bằng quát lên một tiếng bay theo bắt lấy, khán giả ai nấy cũng trầm trồ khen ngợi hảo kinh công hảo kinh công. Kim Khôi lấy được quả cầu bay trở lại khán đài không cần phải hạ chân xuống đất Tiểu Đào Tiểu Mận vui mừng nói chúc mừng Khôi công tử. Quan Viên Ngoại không khỏi thốt lên thượng đẳng kinh công. Tô Khảo lấy quả cầu sau nhất, trở về nơi xuất phát cũng sau nhất. Người lấy quả cầu đứng thứ nhì, trở về vạch xuất phát chính là công tử Quỳnh Châu, người thứ ba là Tiêu Phong, người thứ tư là Vũ Kiếm, người sau cùng là Tô Khảo. Đến lúc nầy Tô Khảo mới biết câu nói của người xưa cao nhơn tất hữu cao nhơn trị, núi nầy cao núi khác còn cao hơn. Điều bất ngờ hơn hết người có kinh công cao nhất là người mà ngày xưa đã từng quỳ dưới chân mình. Tô Khảo âm thầm lặng lẽ trở xuống khán đài nghe những tiếng xầm xì ca tụng Kim Khôi.
Vũ Kiếm, Tiêu Phong chắp tay hướng về Kim Khôi nói hành tẩu giang hồ cũng lâu nhưng chưa bao giờ nghe thấy loại kinh công thượng đẳng nầy phải nói trên đời không có người thứ hai. Kim Khôi thi lể nói hai huynh quá khen.
Viện ngoại nói Kim Khôi đã lọt vào vòng ba thi chưởng pháp thần công, mỗi người đánh vào tảng đá một chưởng để xem kết quả ai thắng ai thua.
Quỳnh Châu nói với Kim Khôi đừng xem đệ mảnh mai mà xem thường hãy dùng hết sức bình sanh mà thi đấu công tử Quỳnh Châu nói xong vận 12 thần công lực hét lên một tiếng đôi bàn tay thon nhỏ như con gái múa lên múa xuống giống như rồng bay, có người thốt lên Long Vân Thần Chưởng nổi tiếng Quan Viên ngoại. Quỳnh Châu đánh vào tản đá một chưởng chỉ nghe một tiếng chát đinh tai tản đá liền in sâu bàn tay của Quỳnh Nga ai nhìn thấy cũng phải kinh hồn bạc vía. Quỳnh Nga nghĩ thầm lần nầy Khôi Huynh có lẽ phải chịu thua vì ngay cả Viện Ngoại cũng không thành tựu võ công được như thế, dưới khán đài ai cũng nghĩ như vậy cả Tiêu Phong cũng như Vũ Kiếm còn ở trên khán đài cũng lấy làm kinh khiếp cho thần công cái thế của Quỳnh Châu.
Ai nấy cũng hồi hộp xem trận đấu có một không hai nầy. Kim Khôi lùi ra xa tảng đá vận Thái Cực Thần Công đánh ra chiêu khai thiên phá thạch chưởng phong vừa đánh ra cuồng phong gào thét đến rợn người Tiêu Phong, Vũ Kiếm vô cùng kinh hãi Tiểu Mận Tiểu Đào khiếp vía một tiếng Ầm rung chuyển đất trời tản đá nát ra thành nhiều mảnh. Quan Viện Ngoại cũng phải đứng dậy trố mắt ra nhìn như không tin vào đôi mắt của mình tuy biết rằng mình đã nhìn thấy Kim Khôi hạ gục Thuồng Luồng.
Quỳnh Châu biến sắc nhìn Kim Khôi khủng khiếp thật, không còn sự tán thưởng ca ngợi mà là kinh hồn khiếp sợ. Quan Viện Ngoại tiên bố Kim Khôi đã lọt vào vòng tư, nếu có thua cũng trở thành con rễ vì đã thắng hai. Công Tử Quỳnh Châu nói với Kim Khôi Long Vân Kiếm Pháp gia truyền nổi tiếng mấy đời chưa có người đánh bại, Khôi Huynh đã thắng hai có cần thi đấu nữa không?
Dưới khán đài nhiều người nói sao lại không đấu để mở rộng tầm mắt xem Long Vân Kiếm pháp tuyệt đỉnh như thế nào cơ hội nghìn năm bỏ qua sao được. Kim Khôi nói đã đặc ra những chặn đường thời phải đi cho hết. Quỳnh Châu nói với Tiểu Đào vào lấy thanh Phụng Kiếm đem đây cho Ta. Nghe nói đến thanh Phụng Kiếm Kim Khôi liền nhớ đến Quỳnh Nga. Tiểu Đào trao kiếm cho Quỳnh Châu, Quỳnh Châu nhìn Kim Khôi nói Huynh hết sức cẩn thận. Quỳnh Châu liền ra chiêu thân hình yển chuyển kiếm và người như rồng bay phụng múa khán giả như nín thở với chiêu rồng giởn trong mây, ánh kiếm lé lên chém tới kình phong xé gió kinh hồn. Kim Khôi không dám xem thường liền ra đòn chống đỡ với chiêu sấm sét Tuyệt Kỷ vang lên nhiều tiếng nổ hóa giải chiêu Rồng Giởn Trong Mây, khán giả như muốn đứng tim thấy Quỳnh Châu kiếm người như con chim phụng với chiêu tuyệt học Phụng Hoàng Tung Cánh ánh kiếm từ dưới bay lên từ trên chém xuống vô cùng lợi hại. Kim Khôi với bộ pháp kỳ lạ thân hình Kim Khôi biến đi đâu mất chỉ nghe cuồng phong gào thét cát bay đá chạy kinh người Viện Ngoại không ngồi được nữa đứng dậy nói đây là chiêu Lôi Âm tuyệt học võ lâm chỉ nghe nói mà chưa bao giờ nhìn thấy. Quỳnh Châu kinh hãi chuyển biến chiêu pháp ánh kiếm biến hóa thành thiên kiến vạn đao bao bọc quanh người như tường đồng vách sắt chống trả lại chiêu Lôi Âm Tuyệt Học. Từ trong cuồng phong bão lốc, kiếm quang như dòng nước chảy xiết, như sóng dậy ba đào cuốn phen Quỳnh Châu, Quỳnh Châu khiếp quá mồ hôi chảy ra như tắm không còn biết đâu mà chống đỡ Tiêu Phong, Vũ Kiếm cũng bạc vía kinh hồn. Bỗng kiếm quang dừng lại chiếc mủ đội trên đầu cải nam trang đã bị kiếm phong của Kim Khôi cuốn phen đâu mất làng tóc mây óng ả bay theo gió thì ra Quỳnh Châu chính là Quỳnh Nga cải nam trang. Kim Khôi đứng ngớ người ra Quỳnh Nga nguýt một cái phi thân trở vào nhà đâu mất. Viễn cảnh xảy ra trước mắt như một giấc mơ.
Nói về Quỳnh Nga trở vào nhà sau đó thời trở ra ai nấy cũng nhìn say sưa một dung nhan tuyệt trần tạo hóa khéo vầy nên vóc. Quan Viện Ngoại nắm lấy tay con gái gởi lời cảm ơn đến những người tham dự, quan Viện Ngoại gả Quỳnh Nga cho Kim Khôi, vợ chồng Kim Khôi chung sống với nhau thật hạnh phúc. Quỳnh Nga sanh được bốn người con hai trai hai gái có gả đi có rước về, sau nầy sinh con đàn cháu đống. Vậy mới biết vận mệnh con người đều có phần số, nhất là không gì qua Cha Mẹ có đức con cháu không sức mà hưởng.
87. CON SÁO VÀ NGƯỜI THẦY TU
Ngày xửa ngày xưa có một con Sáo nói tiếng người rất giỏi cũng như hiểu được ý người. Từ lâu con Sáo quen thân với một thầy tu tên là Sáng. Thầy Sáng thường tụng kinh hết chỗ nầy đến chỗ khác, cho rằng mình đã đạo cao đức trọng. Vì thế ai rước Thầy thường là phải trả giá cao.
Có một hôm Thầy Sáng đi tụng kinh thấy một người tai nạn nằm bên lề đường, Thầy Sáng nhìn rồi bỏ đi luôn không màn ngó gì tới, sau có người biết được nói Thầy Sáng là người tu hành mà còn thua người thường thấy người ta lâm nạn, nhìn rồi bỏ đi. Thầy Sáng nghe người ta nói thế thường biện luận rằng theo luật nhân quả kiếp nạn không phải tự nhiên mà có do kiếp trước người ấy gieo ra, dây dưa làm gì không khéo thời mang họa.
Những người kém hiểu biết cho là Thầy Sáng nói có lý, còn những người có lương tâm thời cho rằng Thầy Sáng đã đánh mất lòng Nhân Thiện. không có lòng thương người, nhìn thấy người lâm nạn bỏ đi không cứu. Nếu không cứu được thời cũng gọi người đến cứu. Đạo Làm Người mà còn chưa tu được lấy đâu ra thành Phật, thành Thánh, thành Tiên.
Một hôm Thầy Sáng nói với con Sáo đạo giải thoát là tai không nghe, mắt không thấy, ý không dính mắc chuyện trần. Con Sáo nói vì thế Thầy mới bỏ mặt người lâm nạn không cứu, Thầy Sáng nói đạo giải thoát là như thế.
Con Sáo nói nếu ai cũng như Thầy thấy người lâm nạn nhìn rồi bỏ đi thời cuộc sống con người khác gì loài cầm, thú. Nếu người lâm nạn kia là Thầy. Ai nhìn qua rồi cũng bỏ đi, thời Thầy nghĩ thế nào những người không cứu Thầy mà bỏ đi đó.
Thầy Sáng nói không nên ví dụ như thế, làm gì có chuyện đó tôi đã đi tụng kinh cho người ta mấy mươi năm đã lên hàng đại đức, phải nói là tới cảnh giới đạo cao đức trọng, làm gì có chuyện lâm nạn.
Sáo nghe xong liền nói nếu Thầy thông luật nhân quả thời hay biết mấy. Thầy Sáng nói tưởng gì chớ luật Nhân Quả thời Thầy đây quá rành.
Sáo nói Thầy tu mấy chục năm, nhưng theo Luật Nhân Quả thời Thầy chẳng có chút phước đức nào cả làm gì có chuyện Đạo Cao Đức Trọng. Thầy Sáng Tự Ái nổi giận nói ngươi chỉ là loài chim Sáo thời biết cái gì ngươi sẽ đọa xuống Địa Ngục vì phỉ báng Thầy Tu.
Sáo nói theo Luật Nhân Quả Thầy đi tụng kinh cho người đương nhiên là Thầy có phước có đức. Nhưng thầy đòi hỏi trả giá cao cho Thầy. Cái Nhân công sức tụng kinh Thầy gieo ra cái Quả đòi giá cao thầy cũng đã gặt rồi lấy đâu ra công đức. Ví như người mua cá tiền đưa ra cá trao lại người bán cũng như người mua chẳng ai nợ ai, cũng chẳng ơn nghĩa gì cả, Thầy Tụng kinh cho người, Thầy đã đòi tiền giá cao rồi, thời còn cái đức đâu nữa mà gặt.
Mấy mươi năm Thầy tụng kinh đâu thời gặt đó, cái công tụng kinh Thầy gieo ra cái quả nhận tiền giá cao coi như là hết lấy đâu ra Đạo Cao Đức Trọng. Theo Thiên Ý Luật Tạng Vũ Trụ Đức không có thời cầu Trời, cầu Phật, cầu Thánh, cầu Tiên, cầu Thần, cầu Chúa, không linh. Cũng như cuộc sống ở đời thường có tiền thời mua gì cũng được. Không lấy gì mua. Cũng như có Đức thời cầu chi cũng ứng linh, Đức càng cao thời cầu càng ứng linh có thể nói cầu chi đặng nấy.
Nên mới có câu thế gian trọng tiền, Thánh Hiền trọng Đức, người có Đức không sức mà hưởng, người có tiền thời dễ mua sắm, quy luật tự nhiên ở đời là vậy. Thầy có tiền thời Thầy mua gì cũng được, nhưng đối với bề trên Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa Thầy không có đức dù cầu lạy sói đầu cũng không ứng linh. Cũng như mua cá không có tiền làm sao mua được. Cầu Trời, cầu Phật đức không có, có nghĩa là ác đức dù cho cầu hoài hết ngày nầy đến ngày khác, căn số không đổi thay, mà cũng chẳng ứng linh đó cũng là Định Luật không có gì lạ cả.
Theo Định Luật Nhân Quả Cảm Ứng, Đức càng nhiều thời cầu chi cũng linh cầu gì đặng nấy. Tiền càng nhiều thời mua sắm như ý. Cũng là chuyện bình thường trong cuộc sống hữu vi cũng như vô vi, đâu có gì cao siêu mà khó hiểu.
Thầy tụng kinh mấy mươi năm đáng lý ra phước đức nhiều vô kể. Nhưng vì Thầy tụng đâu thời lấy tiền đó công bỏ ra thời quả cũng đã nhận rồi. Coi như không có đức mấy, Mấy mươi năm làm đâu ăn đó lấy đâu ra giàu đạo đức. Đức đã nghèo mà tâm cũng thiếu lòng nhân thiện. Chỉ mang hư danh đạo cao đức trọng. Có tiếng mà không có miếng, chỉ có lớp vỏ không ruột lấy đâu ra quả vị để thành Ông nầy Bà kia.
Sáo lại nói đạo giải thoát không phải là Tai không nghe, mắt không thấy, ý không dính mắc chuyện trần. Nếu đó là Thầy đang ngồi thiền, hoặc tịnh tâm thời không nói. Vì ngồi thiền Tai nghe như không nghe, Mắt thấy như không thấy, Ý không không, không dính mắc chuyện trần thời coi như Thầy đã đạt đến Đạo Cao.
Còn Thầy đang trong cảnh giới vận động tiếp xúc với xã hội thời tai Thầy phải thính nghe rõ những điều hay, lẽ trái, nghe rõ sự khổ nạn của con người, ra tay giúp đỡ đi vào cảnh giới tích đức tu nhân. Mắt Thầy phải thấy bao hoàng cảnh nỗi khổ con người mở lòng từ bi cứu khổ cứu nạn thời cái đức của thầy mới cao đi vào Đức Trọng ai cũng kính Trọng cái Đức của Thầy. Việc nên làm Thầy không làm, việc không nên làm Thầy lại làm trí không sáng, trí không sáng thời vẫn còn u minh hay vô minh cũng thế. Tâm còn Vô Minh thời khó mà trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.
Thầy đi vào thiền định, thầy phải hiểu cái lý đạt đến cảnh giới thiền định.
Có nghĩa là Lục Căn trong sạch bất động.
Lục Thức thanh tịnh vắng lặng không dính mắc cảnh trần. Tai nghe như không nghe, mắt thấy như không thấy, ý thanh tịnh không không. Đó là nói lúc Thầy Thiền Định. Nhưng khi thân, tâm, hành động thời người chân tu phải sống theo Lương Tâm tức là hành thiện, không hại đời mà hay cứu người tích góp phước thiện Đây mới chính là đạo giải thoát. Cả Động lẫn Tịnh đạt đến cảnh giới Viên Dung không còn sa đọa vào ba đường ác Đạo, Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh. Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Đằng nầy lúc tu thiền tai Thầy nghe điều nầy điều nọ, mắt Thầy thấy điều nọ điều kia, ý Thầy nghĩ mông lung, nào là thấy thiên đàng địa phủ, nào là nghe tiếng nói của ma quỉ sai quy luật thiền định. Thế mà Thầy cho đó là chứng đắc, nên mới cho mình là Đạo Cao, Đức Trọng. Ai cầu đến Thầy tụng kinh, Thầy đều lấy giá cao.
Thật ra mà nói Thầy tịnh không ra tịnh vì đi sai quy luật thiền định. Động không ra động. Có nghĩa Thầy không nắm vững khi hành động thời sanh nghiệp quả, nếu đó là nghiệp quả ác thời Thầy phải nhận lấy quả báo tai ương. Đã Thiền Định Tịnh Tâm thời tất cả đi vào vắng lặng thoát ly tất cả, thế mà Thầy để Lục Thức vọng động như con Khỉ Ý như con Ngựa không cương vướng mắc lung tung. Lấy đâu ra đắc pháp thành quả. Sự tu hành của Thầy sai đường lạc lối hành động không theo quy luật thành Đạo, dù tu đến nghìn kiếp nữa cũng không thành.
Đã đi vào tu Tâm tích đức thời không đòi hỏi giá cao như vậy, mà tạo duyên lành khắp mọi nơi, không cầu phúc lành thời phúc lành cũng tự đến.
Nếu được sanh làm người trở lại nhờ gieo phúc thiện khắp nơi, Thầy sẽ được thiên hạ hướng về, không thành Vua cũng thành giàu cái giàu tự đến.
Nay Thầy nhờ vào lời dạy của Phật mà hưởng lộc. Nhờ khí trời nuôi dưỡng sanh mạng Thầy mới được bình yên. Trả ơn cho Trời là cứu nhân độ thế. Trả ơn cho Phật là giúp người trong lúc hoạn nạn khó khăn.
Thầy tụng kinh cho người thời đòi giá cao, thấy người lâm nạn thời không cứu. Đúng là ăn lộc Trời nuôi tánh Ma, hưởng lộc Phật nuôi tánh quỉ. Tánh Ma là tánh ham danh háo lợi. Tánh quỉ là tánh vô tâm thấy người lâm nạn không cứu. Tu như thế thời làm sao giải thoát. Nếu không ăn năng sám hối cửa Trời cửa Phật khép kín, cửa Ma cửa Quỉ mở ra, người xuống Địa Ngục không phải là con Sáo tôi mà là thầy. Thầy có cái tên là Sáng nhưng thật ra tối tăm không Sáng chút nào
Chim Sáo nói xong liền bay đi mất Thầy Sáng ngơ ngác chỉ là con chim mà còn hiểu được đạo lý. Còn mình là con người chẳng hiểu gì cả lầm đường lạc lối tâm liền tỉnh ngộ.
Thầy Sáng từ đó tụng kinh không màng đòi hỏi ai cúng dường bao nhiêu cũng được. Lại hay giúp người không cầu trả ơn phi ân bất cầu báo. Không bao lâu nổi danh như sấm dân chúng ca ngợi không hết lời, Thầy mơ ước gặp lại con Sáo.
Một hôm Thầy Sáng đi tụng kinh Thầy thấy con Sáo bị thương nằm trong xó bụi bằng đưa về chăm sóc hết sức tận tình mỗi khi có miếng ăn ngon đều dành phần cho Sáo.
Một hôm Sáo nói Thầy đã thành chánh quả rồi, Thầy Sáng khiêm nhường nói làm gì có chuyện đó, biết rằng Thầy Sáng trước kia không phải là Thầy Sáng hôm nay, việc thành chánh quả là do người thế tôn vinh, tự xưng chỉ là hư danh mà thôi.
Sáo nói Thầy đã thành Phật, thành Thánh, thành Tiên, thành Thần, thành Chúa, gọi Phật cũng được, gọi Thánh cũng xong. Giờ đây Thầy không cầu về trời Thầy cũng được về trời. Thầy sống theo Lương Tâm của Thầy, Phật chính là Lương Tâm, Lương Tâm chính là Phật. Phật ở trong lòng Phật, Phật ở đâu nữa mà tìm. Thầy đã hiểu những Định Luật Thiên Ý Tạo Hóa. Tâm Thầy là Tiên nên ai cũng nhìn thấy được vẻ đẹp Linh Hồn của thầy. Sáo tôi cũng đã mãn kiếp trần Sáo tôi đi trước Thầy một bước. Nói xong Sáo liền ngã lăng ra chết.
Thầy Sáng rơi nước mắt tẩm liệm con Sáo rồi đem chôn.
Đêm hôm ấy Thầy Sáng vừa nhắm mắt thời thấy một vị Đại Thánh hào quang sáng chóa, nói với Thầy Sáng rằng. Ta chính là con Sáo.
Ta vốn là Đại Thiên Vương vì phạm luật thiên, nên bị huyền cơ xoay chuyển đày Ta xuống chốn nhân gian làm thân con Sáo.
Ta nhờ nghe Văn Hóa Cội Nguồn trí huệ khai sáng, thường tìm đến Thầy để bầu bạn. Thấy Thầy đi sai đường lạc lối, Ta mới cảnh tỉnh Thầy mà thôi. Nói xong vị Thiên Vương Đại Thánh biến mất.
– Thầy Sáng từ đó tìm đọc kinh thơ Văn Hóa Cội Nguồn trí tuệ tỏa sáng bừng bừng hội ngộ chân lý Chánh Đẳng Chánh Giác. Ra sức độ người mãn trần về trời trở thành vị Thiên Vương, làm vua một cõi nước trời.
88. CÂU CHUYỆN SOI CĂN
Ngày xửa ngày xưa có một Phú Thương tên là Trưởng Quản giàu có nức tiếng cả vùng, nhưng lại sanh ra ba người con mang một chứng bệnh phải nói là không chữa được một người tên là Nong, một người tên là Nia, một người tên là Cót. Nong, Nia, Cót cả ba người con đều ngu si đần độn học đâu quên đó, chỉ đằng trước quên đằng sau. Ông Trưởng Quản lấy làm rầu rĩ nhưng bệnh đần độn thời đâu có thuốc chữa, Ông chỉ biết thở dài nhìn ba người con mà lòng đau như cắt. Có người bày Ông cầu Thần cầu Thánh chỉ bảo may ra Thần, Thánh chỉ cho Ông cách chữa bệnh Ông liền nghe theo cứ đến ngày rằm ngày mùng một Ông dâng hương hoa trà quả cúng bái cầu Thần Linh chỉ cách cứu chữa cho ba người con Ông.
Ông kiên trì cúng bái cầu Thần, cầu Thánh được ba năm. Cho đến một hôm Trưởng Quản trong lúc ngủ thời thấy một vị Thần hiện đến mách bảo rằng, muốn cứu chữa được ba người con thời phải tìm gặp Đạo Sĩ soi hồn. Nhưng muốn gặp được vị Đạo Sĩ soi hồn thời rất khó. Nói xong vị Thần biến mất.
Vào thời ấy có một Đạo Sĩ có nhiều phép lạ, nhất là phép soi hồn hiểu rõ tiền kiếp của mỗi người ở dưới chân núi Đà Sơn. Nhưng để gặp được vị Đạo Sĩ soi hồn thời rất khó. Không biết bao nhiêu người đi đều không gặp, có người chờ đợi hàng tháng cũng không gặp đành trở về. Trưởng Quản lặn lội đường xa tìm đến nhiều lần nhưng không cách nào gặp được liền nhớ đến vị Thần mách bảo.
Ông lập bàn thờ cầu khẩn thường đêm hầu mong vị Thần mách bảo chỉ cho cách để gặp. Trưởng Quản thành tâm cầu khẩn được ba tháng vị Thần lại hiện đến mách bảo ngày mai Ông dẫn ba người con đến gặp vị Đạo Sĩ soi hồn được rồi.
Qua ngày hôm sau Trưởng Quản nói với vợ hôm nay Ông dẫn ba người con đi gặp Đạo Sĩ. Có khi hai ba ngày mới về ông dặn dò bà ở nhà phải luôn thắp hương cầu Thần cầu Thánh. Ông dẫn ba người con ra đi không quên mang theo một số vàng, bạc, ngọc ngà châu báu.
Ông dẫn theo ba người con lặn lội đường xa cuối cùng ông cùng ba người con cũng đến được nơi ở của vị Đạo Sĩ mà trước đây Ông cũng mấy lần tìm đến nhưng không gặp được Đạo Sĩ, trong lòng Ông vô cùng hồi hộp không biết có gặp được hay không. Nhưng Ông rất tin vị Thần mách bảo. Cũng may cho Ông nếu trễ một ngày thời không thể gặp được Đạo Sĩ, vì vị Đạo Sĩ thường chu du không có ở nhà.
Vị Đạo Sĩ là người tu hành đắc Đạo có thể biết trước những gì xảy ra, nên chuẩn bị năm cái ly uống nước để mời khách. Khi bốn cha con Trưởng Quản đến Đạo Sĩ ra đón tận ngoài ngõ, nói tôi đã biết trước là cha bốn con ông sẽ đến, nên tôi đã chuẩn bị năm cái ly để mời khách. Ông Quản nghe vị Đạo Sĩ nói thế thời kinh hãi biết là đã gặp được Thần Tiên. Trưởng Quản thầm nghĩ quả là lời đồn không sai. Đạo Sĩ không những có tài biết trước, mà còn biết cả tương lai.
Trưởng Quản vì nóng lòng chữa bệnh cho con bằng dâng lễ vật lễ vật cúng dường nào là vàng, bạc, ngọc ngà châu báu, cầu Đạo Sĩ soi căn cho ba đứa con tôi, xem chúng nó vì sao lại mang bệnh như vậy.
Đạo Sĩ nói ba đứa con Ông trông khỏe mạnh nào có bệnh tật gì mà phải soi căn.
Trưởng Quản nói bệnh ba con tôi không có thuốc chữa, không có cái khổ nào hơn là bệnh ngu si đần độn, chỉ được cái ăn còn những chuyện khác thời không ra cái gì. Học đằng trước quên đằng sau, làm đâu quên đó, nói rồi không nhớ ngông ngông nghênh nghênh như người mất trí, khùng chẳng ra khùng mà dại cũng chẳng ra dại. Không hiểu nguyên căn gì mà ra thế. Ông chỉ người con lớn nói nó tên là Nong, Ông chỉ người con kế nói nó tên là Nia, Ông chỉ người con út nói nó tên là Cót.
Để dễ tiện soi hồn Đạo Sĩ dẫn Nong vào thiền phòng, trong thiền phòng có một tấm kính rất kỳ lạ không phải bằng gương. Đạo Sĩ biểu Nong nhìn vào tấm kính, còn Đạo Sĩ thời nhập thiền soi căn. Đạo Sĩ xả thiền đứng dậy dẫn Nong ra phòng khách, Trưởng Quản nóng lòng muốn được nghe bằng nói thưa Đạo Sĩ nó vì sao lại như thế. Đạo Sĩ nói người con lớn của Ông kiếp trước có tu hành đáng lý phải được thông minh khi tái sanh trở lại làm người, Nhưng vì thường hay nói rằng Trời nhỏ hơn Phật, xem thường Trời cũng không khối người nghe theo xem thường Trời, nhiều người còn chửi Trời. Bị Huyền Cơ Thiên Ý xoay chuyển tiêu tan trí lực nên trở thành ngông ngông nghênh nghênh thường như người mất trí. Mãn kiếp trần, tiếp tục tái sanh ra làm người nghèo khổ. Cũng Ngông Ngông nghênh nghênh ăn bậy nói bạ bị người ta la rầy xem thường, không may mắn như kiếp nầy sanh ra trong cảnh giàu sang hưởng phước là nhờ kiếp trước có tu vậy.
Trưởng Quản nghe xong sợ quá nói, ngạo mạn với Trời, xem thường Trời, cho Trời nhỏ hơn Phật ỷ mình theo Phật xem Trời không ra gì thời coi như hết cách cứu rồi phải không Đạo Sĩ. Đạo Sĩ nói không phải là hết cách mà là phải thành tâm sám hối đọc tụng kinh luân. Trưởng Quản nói tôi đã rước không biết bao nhiêu thầy chùa, thầy pháp phải nói là rất cao tay ấn tụng kinh làm đàn mỗi lần như vậy là bảy ngày tốn kém biết bao nhiêu là của, nhưng nào có thấy bớt gì đâu.
Đạo Sĩ nói không phải là đọc kinh của Phật của Chúa mà là đọc kinh thơ Văn Hóa Cội Nguồn Văn Hóa Cội Nguồn. chính là Văn Hóa Thiên Ý, nhờ đọc tụng Văn Hóa Thiên Ý căn bệnh đần độn ngu si dần dần sẽ hết. Đạo Sĩ nói bệnh nào thời thuốc nấy mới bớt được. Phạm Thiên Ý phải tụng kinh Thiên Ý mới khỏi.
Lại nữa tất cả Tiểu Linh Hồn Vũ Trụ là do Cha Trời cai quản. Đã ngạo bán Cha Trời, thời chỉ có Cha Trời mới cứu nổi, không có Phật, Chúa nào cứu nổi đâu.
không cần rước thầy đến đọc tụng, người nhà đọc tụng cũng được. Hiệu quả nhất là Nong đọc tụng Văn Hóa Cội Nguồn thời mau hết bệnh đần độn, không còn ngu si ngông ngông nghênh nghênh trở lại thông minh học đâu nhớ đó, không còn cảnh làm đằng trước quên đằng sau.
Đạo sĩ lại dẫn Nia vào thiền phòng cũng làm y như trước biểu Nia chú tâm nhìn vào tấm kính Đạo Sĩ nhập thiền một lát rồi xả thiền đứng dậy dẫn Nia ra phòng khách. Trưởng Quản đứng dậy nói thưa Đạo Sĩ căn bệnh của Nia giống như anh nó không?
Đạo Sĩ nói kiếp trước của Nia là một người thầy tu, Phỉ báng Văn Hóa Cội Nguồn, nhất là đốt kinh Văn Hóa Cội Nguồn, đáng lý thọ 80 tuổi mới mãn kiếp trần nhưng vì đốt kinh Văn Hóa Cội Nguồn tai họa ập đến chưa đầy 40 tuổi bỏ mạng vì tai nạn giao thông. Linh Hồn bị giam vào ngục bốn mươi năm chịu nhiều sự hành hình khốn khổ nơi Địa Phủ, nhờ kiếp trước có tu nên được đầu thai được làm người trở lại, nhưng Linh Hồn phải chịu cảnh ngu si, tàn tàn mách mách hay sừng sộ gây gổ, lúc nào cũng sợ hãi nhất là nhìn thấy xe. Cũng chỉ có Trời mới cứu nổi Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa cũng bó tay. Chỉ có Văn Hóa Thiên Ý Cội Nguồn mới chữa khỏi. Bằng cách biên chép, đọc tụng ấn in ca ngợi lời dạy của Cha Trời thời dần dần hết bệnh trở lại thông minh.
Đạo Sĩ lại dẫn Cót vào thiền phòng cũng như hai người trước chú tâm nhìn vào tấm kính Đạo Sĩ thời nhập thiền tìm nguyên nhân căn bệnh. Đạo Sĩ dẫn Cót ra phòng khách Đạo Sĩ nói kiếp trước của Cót cũng là một thầy tu khuyên bổn đạo không nên đọc Văn Hóa Cội Nguồn, vì Văn Hóa Cội Nguồn là Văn Hóa Tà Đạo. Trời liền thâu mất trí khôn, để lại trí ngu ăn bậy nói bạ bị người ta đánh chết. Cơ may chuyển kiếp đầu thai làm người, nhưng trí khôn không còn thành ra trở thành ngu si đần độn.
Nói tóm lại: Ba người con của Ông kiếp trước phỉ báng Thiên Ý nên kiếp nầy phải chịu căn bệnh ngu si đần độn, làm đằng trước quên đằng sau, ngông ngông nghênh nghênh tàn tàn mách mách điên không ra điên, khùng không ra khùng. Bệnh nào thuốc nấy. Phạm Thiên Ý, thời có Thiên Ý mới chữa khỏi. Ba người con của Ông phải luôn đọc tụng Văn Hóa Cội Nguồn dần dần sẽ khỏi bệnh trở lại thành người bình thường, có khi còn khai mở trí huệ nữa là khác.
Trưởng Quản dẫn ba người con trở về nhà kẻ lại cho vợ nghe. Vợ Chồng Trưởng Quản lập bàn thờ Thiên, đọc tụng kinh thơ Văn Hóa Cội Nguồn cho ba người con nghe. Lại khuyên ba người con đọc tụng, dần dần ba người con hết bệnh trở lại người bình thường nhứt là Nong thông minh khác thường hiểu rõ kinh ý lời Trời dạy. Gia Đình Trưởng Quản thấy Kinh Văn Hóa Cội Nguồn thậm thâm vi diệu không thể nghĩ bàn nên lúc nào cũng khuyên mọi người đọc tụng kinh thơ Văn Hóa Cội Nguồn để được lợi ích, nhất là gặt hái bao điều may mắn đem đến.
89. CHUYỂN HỌA THÀNH PHÚC
Thị Trấn Mỹ Hậu có hai gia đình, gia đình Ông Bà Sồi, gia đình Ông Bà Gạo, hai gia đình nổi tiếng là con cái hư hỏng.
Ông Bà Sồi sanh được hai người con, người con lớn tên là Hành, người con thứ tên là Tiêu.
Tiêu và Hành công chuyện làm ăn thời lười, còn đua đòi thời khỏi chê càng ngày càng lêu lổng thường bỏ nhà đi đánh đàn đánh đúm tụ năm tụ bảy ăn chơi trác táng. Điều làm cho Ông Bà Sồi lo lắng nhất là dính vào xì ke ma tuý.
Một hôm Ông Sồi đến nhà Ông Gạo thấy gia đình Ông Gạo con cái ngoan ngoãn đứa nào đứa nấy cũng siêng năng trông không có gì là hư hỏng cả thời lấy làm kinh ngạc nói xưa kia con anh cũng như con tôi đều là hư hỏng nhưng sao bây giờ tụi nó đứa nào đứa nấy cũng lễ phép, ngoan ngoãn siêng năng trong công việc tháo vát làm ăn, anh có phương pháp gì hay truyền cho tôi với.
Ông Gạo nói tôi chẳng có phương pháp gì hay chỉ nghe theo lời người ta chỉ bày làm lành hướng thiện thời chuyển họa thành phúc vợ chồng tôi ra sức làm nhiều điều phúc thiện con cái tôi cũng bắt chước làm theo, đứa nào cũng đổi tâm sửa tánh mới được như vậy. Ông Sồi nghe xong rồi nói tu là phải đến chùa nhưng hai đứa con tôi nào có thèm đi.
Ông Gạo nói tu chỉ là sửa chữa, sửa đổi tánh nết của mình, nào phải lên chùa mới sửa được. Quan niệm tu là phải lên chùa là quan niệm sai lầm, tu chỉ là sửa đổi tánh nết mà thôi. Không nghe người ta nói sao nhất thời tu ở tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa. Tôi nghe người ta đồn không có đạo nào hơn được Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Ý Cha Trời, Văn Hóa Cội Nguồn là Văn Hóa tối cao vũ trụ Đời Đạo viên dung, trong Đời có Đạo trong Đạo có Đời, nên tu theo Văn Hóa Cội Nguồn, không những dễ tu, mà chuyển đổi số mạng cũng nhanh.
Trước đây gia đình tôi phải nói là lộn xộn, lại làm ăn chẳng được suôn sẻ gì, làm đâu thất bại đó, con cái lại hư hỏng. Nhưng từ khi tôi đi theo Văn Hóa Cội Nguồn mượn kinh thơ về đọc, làm theo sự dạy bảo trong kinh thơ. Không ngờ mọi việc đều như ý, hầu như muốn gì được nấy.
Ông Sồi nghe xong lấy làm mừng lắm học theo lối tu của Gạo tu tại gia. Quả là hiệu nghiệm hai đứa con lần lần hết phá tiền tính tình cũng thay đổi Hành, Tiêu dần dần trở thành một con người khác. Ông Sồi thấy vậy cho là đạt kết quả nên lơ là ít tụng đọc kinh thơ, chỉ lo làm giàu việc hành thiện cũng giảm sút.
Hai đứa con của Ông Sồi trở nên hung dữ thường cãi lại Mẹ Cha tính lêu lổng lại thậm tệ hơn nữa Ông liền mất niềm tin ở Văn Hóa Cội Nguồn, không còn mặn mà gì đến đọc tụng kinh thơ.
Cho đến một hôm Ông Sồi vừa chợp mắt thiêu thiêu liền thấy một vị thần đến mách bảo người tu hành như kéo tre lấy lửa. Thanh tre mới hơi nóng thời dừng lại thời lấy đâu ra lửa. Như người trồng lúa trồng rồi bỏ đó không chăm bón thời lấy đâu kết quả mà gặt. Muốn chuyển họa thành phúc phải nỗ lực cho đến khi biến họa thành như gia đình Ông Gạo. Thế mà Ông Gạo cũng không dừng lại cả gia đình nỗ lực đọc tụng tu theo Văn Hóa Cội Nguồn hơn nữa. Vị Thần liền ngâm mấy dòng thơ.
Người tu hành ví như leo núi
Càng lên cao, càng cố gắng hơn
Lúc leo phải chịu gian nan
Khi mà tới đích thảnh thơi an nhàn
Chốn hồng trần cõi đời dâu bể
Nợ hồng trần, vay trả triền miên
Phải nương Nguồn Cội giải vây
Mới mong thoát khỏi tai ương khốn cùng
Tu phải bền, dần dần thoát khổ
Thiện gieo ra chuyển đổi số căn
Làm lành lánh dữ sớm hôm
Phước năng thắng số xưa nay sự thường
Ông Gạo tấm gương sáng ngời
Con đường Ông đã đi rồi thành công
Ông Sồi dường như tỉnh ngộ, quyết chí tu hành theo Văn Hóa Cội Nguồn, siêng năng tinh tấn, ai nói gì cũng không nghe, dù cho thịt nát xương tan cũng không lùi thường đọc kinh thơ làm lành bố thí tiếng lành đồn xa Hành và Tiêu đi đến đâu cũng nghe người ta ca ngợi Cha mình dần dần tỉnh ngộ, không còn chơi bời lêu lổng trở lại có hiếu với Cha Mẹ.
Gia đình Sồi như trút gánh nặng trong ấm ngoài êm.
Một hôm Ông Sồi mua được củ sâm quí, liền đến nhà Ông Gạo biếu cho củ sâm quí. Kể lại những gì đã trải qua cho Ông Gạo nghe.
Ông Gạo nghe xong rồi nói, nghe Sồi kể về vị Thần mách bảo tôi càng sáng ra người tu như leo núi cố gắng leo càng cao thời càng thành công, càng thấy xa hiểu rộng. Con người hơn nhau là ở cái đầu và sự giác ngộ mà thôi.
90. HẠT GẠO TRÊN SÀNG
Ngày xửa ngày xưa phải nói là rất xa xưa có một vị Thầy tên là Giác Hoa tinh thông vạn pháp chuyện gì cũng biết đi khắp mọi miền đất nước Nam Sa thu nhận được 12 môn đồ đệ tử đem về Sơn Cốc truyền dạy văn, võ.
Sau bao năm khó nhọc truyền dạy văn võ người nào người nấy đều tài giỏi lại khéo ăn nói thường tranh nhau phụng dưỡng thầy, không ai chịu kém ai về lòng trung thành cũng như lòng nhân hiếu.
Một hôm Giác Hoa nói với môn đồ để tử rằng Ta đã tu luyện đến cảnh giới không còn bệnh tật gì nữa bách bệnh bất xâm. Quyền năng cái thế quyền lực vô biên các con có tin như thế không?
12 môn đồ đệ tử đều thưa rằng chúng con tin tuyệt đối lời Thầy nói.
Thầy Giác Hoa hỏi lại: Các môn đồ đệ tử nói có thật không? không ai chịu cho mình là không tin tuyệt đối lời Thầy nói bằng thề thốt nầy thề thốt kia, Giác Hoa nói Thầy thật có phúc không nhìn lầm người.
Nói về Thầy Giác Hoa đi đâu không biết hơn ba ngày khi trở về liền lâm trọng bệnh, bước đầu 12 người đệ tử thi nhau chăm sóc, nhưng bệnh tình của Giác Hoa không thiên giảm mỗi ngày một nặng, không bao lâu thời sinh ra lở lói, mùi hôi thúi mỗi ngày một thêm nhiều. Văn, Hậu, Duyệt, Lê bàn tán với nhau Thầy nói Thầy tu luyện đến cảnh giới không còn bệnh tật gì nữa bách bệnh bất xâm, chẳng qua là Thầy đề cao Thầy mà thôi, bằng chứng là Thầy đang mang bệnh. Đã đau bệnh lại còn sinh ra lở lói, hôi thúi vô cùng.
Văn nói người bình thường cũng chưa đến nổi như thế. Thật ra Thầy đâu có gì đặc biệt cũng mang lấy nghiệp vào thân. Nên mới sinh ra bệnh tình lỡ loái hôi thúi như vậy, nói thiệt với các huynh có lúc đệ chịu không nổi. Hậu nói theo tôi nghĩ Thầy cũng chỉ là người Thầy bình thường mà thôi không như Thầy nói đâu, hơn nữa Thầy cũng đã truyền hết những gì Thầy biết cho chúng ta rồi. Nên sáu tháng nay Thầy đâu có truyền gì nữa lúc nào Thầy cũng dặn chúng ta chú tâm vào văn ôn võ luyện đâu còn gì nữa để mà học. Duyệt, Lê, nói Đạo làm đệ tử không lẽ thầy đang đau mà bỏ đi.
Một hôm Thầy Giác Hoa nói với 12 người đệ tử rằng, tí nữa Thầy quên mất Cha Mẹ các con nhắn với Thầy là gia đình đang có chuyện, nhưng không rõ là chuyện gì các con nếu thấy cần thiết thời về, Cha Mẹ các con đang chờ các con đó. Văn, Hậu, Duyệt, Lê nghĩ đây là cơ hội thoát thân, tránh đi cái cảnh ngày nào cũng phải ngửi mùi hôi thúi. Bằng nói với Giác Hoa. Thầy đã nói như vậy mai con sẽ lên đường trở về, nói là mai nhưng thật ra về đến thiền phòng Văn, Hậu, Duyệt, Lê, thu dọn lên đường rời xa Sơn Cốc xuống núi.
Qua mười ngày sau Minh, Quân, Dần, Mẹo cũng nghĩ như Văn, Hậu, Duyệt, Lê không còn tin tưởng vào Thầy nữa, Thầy cũng chỉ là người bình thường, bằng nói với Giác Hoa chúng con muốn trở về nhà văn ôn võ luyện chờ ngày ứng thí. Giác Hoa nói các con sớm lên đường.
Minh, Quân, Dần, Mẹo xuống núi được mấy ngày thời Thầy Giác Hoa qua đời, trước khi qua đời Thầy Giác Hoa nói các con đem xác thân thầy chôn ở Nhai Sơn Lãnh cách đây hơn 50 dặm để chôn. Thầy Giác Hoa đã chết giờ chỉ còn Tý, Sửu, Hào, Thịnh.
Tý, Sửu, Hào, Thịnh, bàn tán với nhau tìm ra giải pháp gọn nhẹ tốt nhất. Tý nói Thầy giờ đây chỉ là cái xác thúi chôn chỗ nào mà chẳng được, cần gì phải chôn trên Nhai Sơn Lãnh xa xôi, chôn Thầy ở đây rồi về. Vì đây tới Nhai Sơn Lãnh quá xa đường đi toàn là rừng núi, lại thân xác Thầy hôi thúi. Không khéo lây nhiễm bệnh cho chúng ta, bỏ mạng không chừng.
Hào, Thịnh, không bằng lòng nói Thầy đã dặn như thế sao chúng ta không làm theo. Sửu nói thầy giờ đây chỉ là cái xác vô tri Đệ tán đồng ý kiến của Huynh Tý, hai bên cải qua cải lại, Tý, Sửu, nói lòng trung thành của hai huynh chẳng ích chi không nói là ngu nữa là khác. Nói xong thời bỏ đi không một lời từ giả. Giờ còn lại chỉ hai người Hào và Thịnh, hai người quấn Thầy lại rồi bốc thăm ai trúng chữ “cõng”, thời cõng thầy đi, qua ngày sau thời thay thế Thịnh bốc trúng chữ cõng, cõng Thầy đi được hơn một ngày Nhai Sơn Lãnh thời còn quá xa hơn nữa trời sắp tối, xác thầy lại hôi thúi tiếng hổ gầm vang dội núi rừng. Ánh hoàng hôn lịm tắc bóng đêm phủ xuống, sương lạnh mịt mù núi rừng chìm trong u tối. Thịnh vì cõng thầy cả ngày mệt quá ngủ thiếp đi lúc nào không biết.
Đến khi tỉnh dậy thời trời đã sáng thời hỡi ôi không còn thấy Hào đâu nữa chắc có lẽ Hào đã bỏ đi rồi. Thịnh buồn rầu mới đi được hai phần đường giờ chỉ còn lại một mình, đường rừng quanh co rậm rạp chẳng có bóng người, hổ, beo, cáo, sói rình mò, xé xác.
Thịnh nhìn xác của Thầy hầu như quên cả hôi thúi nổi lên bao niềm xúc động, không quên ơn công dạy bảo. Thịnh quyết định dù cho cọp sói ăn thịt cũng phải làm tròn bổn phận học trò ra thân đền đáp chút công ơn. Dù có bị lây nhiễm bệnh tật Thịnh quyết không làm trái lời thầy dạy. Bằng cỏng thầy lên lưng mùi hôi thối nồng nặc. Nhưng Thịnh không lấy đó mà bỏ Thầy chỉ biết chú tâm làm theo lời dạy của Thầy mà thôi.
Cuối cùng Thịnh cũng đến được Nhai Sơn Lãnh chỉ còn vượt qua hố sâu thung lũng là đến nơi. Thịnh ngồi khóc làm sao cõng thầy qua hố sâu thung lũng cho được. Bỗng nghe sau lưng có tiếng ngâm thơ một giọng ngân nga nổi lên.
Hạt gạo trên sàng chính là đây
Tâm như nhật nguyệt sáng lắm thay
12 đệ tử còn được một
Đệ tử chân truyền chính là đây
Giác Hoa ngâm thơ xong rồi nói con để Thầy xuống Thịnh lấy làm kinh hãi nói thầy sống lại sao? Giác Hoa nói Thầy chưa tới số làm sao mà chết được. Đó là phép thử lòng đệ tử mà thôi. Thịnh như chợt hiểu thì ra là thế.
Giác Hoa nắm lấy tay Thịnh bay lên Nhai Sơn Lãnh Thịnh vô cùng kinh hãi, đến lúc nầy Thịnh mới biết sự phụ thần thông quảng đại như những gì sư phụ nói.
Nhìn Nhai Sơn Lãnh cảnh quang đẹp như bồng lai tiên cảnh Thịnh đã nhận ra nơi đây mới chính là nơi sư phụ ở. Thảo nào lâu lâu sư phụ ra đi năm mười ngày rồi trở về Sơn Cốc. Sơn Cốc chỉ là nơi sư phụ dùng để đào tạo môn đồ đệ tử mà thôi.
Thịnh được Giác Hoa sư phụ truyền thụ võ công tuyệt học, cũng như pháp thuật thần thông. Thịnh tu luyện được ba năm có thể nói là Văn, Võ xuất chúng.
Một hôm Giác Hoa nói triều đình đang mở khoa thi tuyển chọn hiền tài con mau xuống núi đến trường an dự thi. Đất nước cũng đang lâm nguy vì giặc Hung Nô đang xâm lấn.
Quốc Thịnh từ biệt sư phụ đằng vân giá vũ bay đến trường an, ghi tên vào danh sách dự thi. Thấy có tên Dần, Mẹo, Tý, Sửu, Hào, Văn, Hậu, Duyệt, Lê, Minh, Quân. Đến ngày dự thi anh em gặp lại nhau tay bắt mặt mừng. Hào nói với Thịnh mấy năm nay lúc nào Đệ cũng thấy hổ thẹn, lương tâm luôn kén rức vì sao mình lại làm như thế bỏ huynh ở lại một mình giữa rừng hoang với xác thân sư phụ, đệ nghĩ mình không còn xứng đáng là học trò của Thầy nữa, nên đệ không xưng mình là đệ tử Giác Hoa.
Chỉ có Huynh là xứng đáng là đệ tử Giác Hoa mà thôi.
Hào nói Thịnh Huynh đi đâu ba năm nay biệt tăm biệt tích. Trong mười hai huynh đệ anh em. Đệ kính trọng nhất chính là Thịnh Huynh. Huynh đã chôn thầy ở Nhai Sơn Lãnh chớ. Quốc Thịnh nói Thầy có chết đâu mà chôn.
Văn, Hậu, Duyệt, Lê, Minh, Quân, Dần, Mẹo, Tý, Sửu, Hào, nghe Thịnh nói Thầy không chết thời vô cùng kinh ngạc trố mắt ra mà nhìn Quốc Thịnh tưởng mình nghe lầm bằng hỏi lại Thầy không chết thiệt sao? Thịnh nói đúng thế nơi ở chính thức của Thầy chính là Nhai Sơn Lãnh, còn chỗ Sơn Cốc anh em huynh đệ chúng ta học chỉ là nơi phụ không phải nơi chính của thầy ở.
Quốc Thịnh bằng kể lại tất cả những gì đã trải qua, Quốc Thịnh nói ba năm nay đệ không xuống núi là vì Đệ ở lại Nhai Sơn Lãnh tiếp tục tu học. Dần, Mẹo, Tý, Sửu, Hào. Văn, Hậu, Duyệt, Lê, Minh, Quân, vô cùng hổ thẹn cho tấm lòng không trung chính của mình đã bỏ Thầy ra đi khi Thầy đang đau ốm bệnh nặng. Nhất là Hào vô cùng hối tiếc vì bỏ qua một cơ may mà mình đã đi gần đến đích.
Trống trường đã vang cuộc thi cũng đã bắt đầu thí sinh có đến hàng chục môn Văn thi trước, môn võ thi sau kết thúc cuộc thi Quốc Thịnh cả văn lẫn võ dẫn đầu vào ngôi vị Trạng Nguyên, cùng với hai người nữa một người là Phong, ngôi vị Bảng Nhãn, một người là Hào ở vị Thám Hoa. Còn Dần, Mẹo, Tý, Sửu, Văn, Hậu, Duyệt, Lê, Minh, Quân, phải chờ đến kỳ thi sau lấy làm tiếc cho sự thiếu hiểu biết của mình, đã gặp được minh sư là chuyện hi hữu trong đời, vì cái tâm không được chân chính lại tưởng mình là hay, nhưng thật ra rất ngu si.
Quốc Thịnh thống lãnh đại quân thảo trừ giặc Hung Nô, vốn tài trí hơn người lại có pháp thuật thần thông chưa đầy một tháng quân Hung Nô bị đại quân Quốc Thịnh xóa sổ.
Nhà Vua Nam Sa gả Công Chúa Mỹ Tiên cho Quốc Thịnh, Quốc Thịnh trở thành phò mã sống trong giàu sang an vui hạnh phúc. Lữ Hào được bổ nhiệm về làm quan tri huyện Gia Trung. Lấy được người vợ xinh đẹp sống an vui hạnh phúc. Vậy mới biết lòng Trung Chính, Nhân Hiếu bao giờ cũng gặt hái những kết quả tốt đẹp. Lòng bất chính Bất Nhân, Bất Nghĩa,thường chẳng gặt hái được gì mà lại để tiếng đời nhân thế cười chê.
91. TIÊN DUNG VÀ CHỬ ĐỒNG TỬ
Thần Tiên giáng hạ lâm phàm
Tấm gương để lại cho đời soi chung
Công chúa ưng người nghèo xơ
Nên duyên chồng vợ tóc tơ sống đời
Tình yêu đâu kể giàu nghèo
Tơ duyên là bởi do trời mà nên
Nào ai có muốn được đâu
Điều do số mệnh thành đôi ý Trời
Mở màn câu chuyện lạ đời
Tiên Dung, Đồng Tử, ở thời Hùng Vương
Vào thuở xa xưa vào thời Hùng Duệ Vương đất nước đến thời loạn lạc. Bắc Văn Lang không còn, hơn hai phần Trung Văn Lang đã mất. Chỉ còn Nam Văn Lang và một phần Trung Văn Lang.
– Khi ấy trên cõi Trời Đao Lợi Thiên có cặp Thần Tiên Nam Tiên Long, Nữ Ngọc Nữ thường qua lại hẹn hò cùng nhau, nguyện sanh xuống chấn nhân gian kết duyên thành vợ thành chồng.
– Ngọc Nữ đầu thai làm con Hùng Duệ Vương đời thứ 18 hạ Hùng Vương, cũng là đời cuối của niên đại Hùng Vương kéo dài nối tiếp 2701 năm. Hùng Duệ Vương lên ngôi Hoàng Đế trị vì thiên hạ thay Cha là Hùng Nghị Vương 306 đến 258 trước công nguyên. Hùng Duệ Vương có hai người con gái đẹp tuyệt trần. Một người là Tiên Dung, một người là Mị Nương. Tiên Dung công chúa là chị. Mị Nương công chúa là em.
Khi ấy ở Làng Chữ Xá, có vợ chồng Cù Vân ăn ở hiền lành sanh ra một cậu con trai khôi ngô tuấn tú, chính là Tiên Long Kim Đồng lâm phàm.
– Chữ Cù Vân đặt tên cho con là Chử Đồng Tử. Chử Đồng Tử lên 10 tuổi thời bà Cù Vân qua đời, hai cha con nương tựa nhau mà sống, nghèo đến nổi không có áo để mà mặc, hai cha con chung nhau một cái khố, hễ ai đi đâu thời mặc.
– Một hôm cha Chử Đồng Tử là Ông Cù Vân bị ốm biết mình sắp chết, liền dặn Chữ Đồng Tử rằng, khi cha chết con cứ táng trần cho cha còn cái khố con giữ lấy mà dùng.
– Ông Cù Vân chết, Chử Đồng Tử là người con có hiếu không nở để cha trần truồng, lấy khố mặc cho cha rồi mới đem chôn.
– Cuộc sống quá nghèo chỉ một túp lều nhỏ ở ven sông, ngày ngày Chử Đồng Tử như con rái lặn hụp dưới nước bắt cá, đổi lấy gạo cho các thuyền qua lại sống qua ngày. Trên đời không ai nghèo như Chử Đồng Tử cái khố còn không có để mà mặc.
– Nói về Tiên Dung tuy sanh ra trong thế thời loạn lạc nhưng lòng kiên định vững vàng vô cùng. Trong triều đình thường tranh chấp xảy ra. Tiên Dung quá chán cảnh ấy nên sống trong giàu sang Tiên không lấy đó làm tự hào, lúc nào cũng hạ mình phong cách sống như dân thường cả triều đình ai cũng mến yêu.
– Tiên Dung không những đức hạnh nết na hơn người mà còn nhan sắc thời tuyệt trần ai nhìn thấy cũng phải đắm say. Có khối người dạm hỏi toàn là những con nhà danh giá, nhưng Tiên Dung vẫn làm lơ, không nghĩ gì đến chuyện trăm năm. Tuổi tuy đã lớn 19 xuân xanh nhưng không chịu lấy chồng, điều nầy làm cho Hùng Duệ Vương bực mình. Nhưng vì thương con nên chiều theo ý con. Tiên Dung chỉ thích cho người chèo thuyền đi xem sông núi. Vua Hùng chìu ý con cấp cho chiếc thuyền lớn cũng như đầy đủ tiện nghi có cung nữ theo hầu hạ, quân binh bảo hộ Tiên Dung cho người chèo thuyền đi hết nơi nầy đến nơi khác.
Dòng sông nước chảy lờ đờ
Thuyền đi lặng lẽ tháng ngày trên sông
Bốn bề phong cảnh đẹp xinh
Xa xa đồng ruộng lũy tre đàn cò
Lòng riêng ta lại với mình
Chu du sông nước bạn cùng nước non
Bao la trời đất mênh mông
Hòa cùng mây gió núi sông đất trời
Thả hồn chẳng vướng tục trần
Màng chi danh lợi chịu nhiều đắng cay
Chi bằng sông nước đó đây
Trăng soi khắp chốn chim bay đại ngàn
Dòng sông nước chảy lờ đờ
Thuyền đi lặng lẽ tháng ngày trên sông
Tiên Dung lòng say sưa chu du sông nước nay đây mai đó ngắm cảnh quên đời.
Trời mây nắng gió đưa đường
Thuyền đi nhè nhẹ trên dòng sông lô
Khúc sông tiền định nên duyên
Tiên Dung, Đồng Tử vang danh để đời
Một hôm Tiên Dung đi thuyền chơi trên sông Lô, thuyền của Tiên Dung đi giữa, còn trước sau là thuyền của binh lính và thuyền thị nữ. Khi đến khúc sông thuộc làng Chữ Xá tiếng mái chèo làm dậy cả mặt nước, thuyền trước thuyền sau khuấy động cả một vùng Chữ Đồng Tử trông thấy hoảng hồn, vội vứt dụng cụ bắt cá vào bụi. Còn mình thời chạy nhanh lên bãi cát, nhanh tay bới cát vùi lấp thân mình không cho ai nhìn thấy, tưởng thế là yên.
Nào ngờ duyên định tiền duyên
Đất trời vầy cuộc nên đôi vợ chồng
– Tiên Dung ngồi trên thuyền nhìn ngắm cảnh sông nước hai bên bờ bãi cát trông thật đáng yêu, nàng ra lệnh cho thuyền chậm lại, trước mặt nàng là bãi cát có nhiều cây xanh bóng cây tỏa mát. Một cơn gió thoảng qua cành lá đong đưa trông đẹp mắt vô cùng, cảm thấy lòng mình như muốn dừng chân nghỉ nơi đây, liền ra lệnh cho quân binh tấp ghe vào bãi cát.
– Tiên Dung từ trên thuyền bước xuống ngắm nghía một hồi chọn chỗ nghỉ chân, dưới một tàn cây xanh mướt, mắt nàng nhìn thấy nơi đây thật đáng yêu, liền ra lệnh cho thị nữ giăng màng tứ vi để tắm.
Trên bầu trời gió mây che mát
Dưới dòng sông sóng nước êm êm
Lòng Tiên Dung quả tim thôi thúc
Tắm gội mình, sạch bớt bụi dơ
Tòa thiên nhiên, vóc hình trắng nuốt
Tuy xác phàm, chẳng khác gì tiên
Nào hay duyên định tiền duyên
Mối tình thượng giới tái sinh chốn trần
Tiên Dung thỏa thích trong lòng
Xối lia xối lịa chừng nhìn hổi ôi.
– Nói về Chử Đồng Tử lấp mình trốn dưới cát, bị Tiên Dung xối nước tắm trôi cát ló mặt ra, không thể tránh được nữa liền ngồi dậy trần truồng như nhộng. Tiên Dung trông thấy giật mình, không la lên mà vô cùng trầm tỉnh, không gọi thị nữ mà còn ra lịnh cho thị nữ lùi ra xa.
– Tiên Dung hỏi chàng từ đâu tới sao lại chôn mình dưới cát. Chử Đồng Tử nói thưa công nương vì quá nghèo cái khố còn mua không nổi, nói chi quần áo. Thường ngâm mình dưới nước bắt cá đổi lấy bát cơm sống qua ngày. Thấy thuyền quân binh thời sợ nên phải vùi mình lấp cát để trốn ẩn. Nào hay đâu sự việc ra thế nầy.
– Tiên Dung nói Ta đã nguyện là không lấy chồng chu du sông nước qua ngày. Bầu bạn với đất trời mây gió, Phải chăng Tạo Hóa đã an bày, xui khiến Ta đến chốn nầy để rồi gặp chàng trong cảnh ngộ hôm nay tác hợp nên duyên chồng vợ.
– Chàng hãy tắm gội sạch sẽ để thiếp xem nào, Chử Đồng Tử tắm gội xong trở thành chàng thanh niên khôi ngô tuấn tú. Tiên Dung nhìn thấy rung động quả tim như đã quen nhau từ bao đời. Tiên Dung lấy quần áo đưa cho mặc. Chử Đồng Tử trong nháy mắt đã lột xác trở thành một con người khác, chẳng khác gì Tiên Long ở trên trời.
– Tiên Dung đưa Chử Đồng Tử xuống thuyền, sai thị nữ chuẩn bị tiệc hoa, bái Thiên bái Địa nên duyên vợ chồng. Chử Đồng Tử nói nàng là Công Chúa đài các, còn Ta là chàng trai nghèo xác nghèo xơ. Hơn nữa hôn sự là do Cha Mẹ quyết định.
Tiên Dung nói em là dòng dõi Hùng Vương, cũng chính là con cái Nhà Trời con Rồng cháu Tiên. Tiên Đế Quốc Tổ thời dựng nước đâu cấm trai nghèo gái giàu không được yêu nhau. Cũng đâu có buộc con cái có chồng gả vợ theo ý Cha Mẹ, mà là tự nguyện đến với nhau. Cha Mẹ thuận theo duyên nợ mà tác hợp cho đôi lứa.
Thiếp với Chàng là do Trời xe duyên không thể làm trái ý Trời việc gì mà Chàng từ chối.
– Chử Đồng Tử nghe Tiên Dung phân tích có lý liền nghe theo. Từ hôm ấy hai người thành vợ thành chồng.
– Hùng Duệ Vương vô cùng tức giận, cho người lấy lại hết thuyền bè cũng như gọi hết binh lính cùng thị nữ người hầu trở về. Tiên Dung chỉ còn lại một mình đi theo Chữ Đồng Tử, chung sống với nhau tìm kế sinh nhai. Tiên Dung bán sạch những châu báu nàng có cùng Chữ Đồng Tử ra sức làm ăn. Tiên Dung lèo lái vượt qua bao cảnh khó khăn làm ăn mỗi ngày mỗi thịnh vượng, dần dần lập thành làng thành xóm, cũng như sắm được thuyền bè.
Chữ Đồng Tử là người rất thông minh nên mọi việc làm ăn thường trôi chảy. Một hôm có người khuyên bảo mở rộng làm ăn tiếp cận dân làm nghề biển, cũng như tìm kiếm những vật lạ đem về trao đổi những thứ khác. Vì thời đó cũng có nhiều thương gia làm giàu bằng con đường nầy. Tiên Dung nghe theo, để Chữ Đồng Tử ra đi bước vào hành trình thương gia.
Bao chuyến đi Chử Đồng Tử đem về bao lợi phẩm sự trao đổi mua bán càng thêm tấp nập, làng Xá Chữ từ đó giàu lên.
– Cho đến một hôm Chử Đồng Tử muốn làm ăn lớn bằng du thuyền ra miền Trung Hải, Trung Văn Lang đã bị quân Triệu chiếm đóng, nhưng sự giao thương giữa Trung Văn Lang, Nam Văn Lang vẫn thường qua lại nhất là trên địa phận về biển.
– Chử Đồng Tử đi qua một nơi phải nói là phong cảnh tuyệt đẹp, trên núi lại có một cái am nhỏ. Trong lòng như ai mách bảo con phải lên cái am kia. Chử Đồng Tử liền ghé thuyền leo lên sườn núi thời gặp một nhà sư, vì khi đó Phật Giáo đã ra đời trên hai trăm năm. Chử Đồng Tử nhìn nhà sư thần thái khác thường hình như trông có vẻ đắc đạo. Nhà Sư ấy tên là Phật Quang.
Nhà Sư đã biết trước Chữ Đồng Tử sẽ đến đây nên ra tiếp đón mời Chử Đồng Tử vào am. Chử Đồng Tử là người mộ đạo nên cầu pháp để nghe. Phật Quang thuyết giảng nói trần gian chỉ là nơi cõi tạm Thiên Đàng mới thật là chánh quê. Không ai có thể sống mãi nơi trần gian, dù cho đó là người giàu có nhất thiên hạ, cũng như quyền lực nhất trần gian, đều phải chết đi và bỏ lại tất cả. Linh Hồn ra đi với hai bàn tay trắng. Khổ nhọc một đời rốt lại chỉ là trống không. Chi bằng tu hành chứng quả trường sanh trở lại Thiên Đàng Cực Lạc. Chử Đồng Tử liền tỉnh ngộ bái sư.
Chử Đồng Tử không nghĩ đến việc du thuyền ra biển hành nghề thương buôn nữa, liền ở luôn đó. Nhà Sư liền truyền pháp thuật cho Chữ Đồng Tử. Chử Đồng Tử Tu Luyện được một năm thời Nhà Sư cho Chữ Đồng Tử xuống núi trao cho một cái Gậy và một cái Nón, nói đây là hai bảo bối khi cần thời dùng đến.
Nói về Tiên Dung, nhớ nhung Chử Đồng Tử sau chuyến nầy chàng đi lâu quá chưa về ngày đêm lo lắng trong lòng, ngồi trong nhà nhìn theo dòng sông nào thấy thuyền chàng trở lại.
Chàng ở nơi nào chàng ở đâu
Để em đơn lẻ, những u sầu
Mùa đông sắp đến, tim lạnh giá
Giọt mưa lộp độp, những đêm thâu
Hỡi chàng, chàng hỡi, bao thương nhớ
Tháng đợi năm chờ, mắt lõm sâu
Lòng em lo lắng, trông biết mấy
Trông bóng hình chàng nào thấy đâu
Qua rồi những giọt mưa ngâu
Bóng chàng biền biệt biết đâu mà tìm
Tiên Dung đang âu sầu, thời nghe dân làng vào báo là Chữ Đồng Tử đã trở về. Tiên Dung mừng rơi nước mắt chạy ra đón. Trên chiếc thuyền ngoài Chử Đồng Tử ra thời trống không chẳng có hàng hóa gì cả. Tiên Dung nào quan tâm đến có hàng hóa hay không chỉ cần Chử Đồng Tử bình yên trở về là được.
Tiên Dung hỏi Chàng đi đâu mà lâu thế. Chử Đồng Tử nói anh đã gặp được Sư Thầy truyền cho pháp thuật, nên anh ở nơi am cốc tu luyện nên không mua bán trao đổi hàng hóa gì cả, trở về với chiếc thuyền không. Tiên Dung nghe Chử Đồng Tử được Sư Thầy truyền cho pháp thuật bằng nói. Chàng đã học được những gì.
– Chử Đồng Tử liền đem phép mầu truyền cho Tiên Dung cũng như giảng đạo cho Tiên Dung nghe, Chử Đồng Tử nói chúng ta là người ở cõi thượng thiên sanh xuống chốn nhân gian. Chốn trần gian chỉ là cõi tạm Thiên Đàng mới thật chính quê. Chúng ta mau tu luyện trở về thiên giới. Tiên Dung vốn là người mộ đạo nghe Chử Đồng Tử truyền dạy chân lý liền tiếp thu được liền. Từ đó Tiên Dung vừa luyện pháp thuật vừa nghe Chử Đồng Tử thuyết giảng huệ tâm khai mở không bao lâu liền ngộ đạo, biết rõ Niên Đại Hùng Vương sắp kết thúc, Ý Trời đã thế nào ai chống lại được đâu.
– Tiên Dung cùng Chử Đồng Tử đang luận bàn về chuyện tu hành thời có người đến báo là Hùng Vương sẽ đem quân đến bắt vợ chồng mình, chia cắt vợ chồng đưa Tiên Dung về cung. Chử Đồng Tử nói hai Ta giờ đã có pháp thuật thần thông quân triều đình cũng chẳng làm gì được. Nhưng nếu chống lại quân triều đình thời gây ra tội bất hiếu, thôi thời chúng ta bỏ đi ra khỏi địa phận Vua Cha cai quản. Chúng Ta sẽ chung sống nơi đó Tiên Dung nghe cũng phải liền bỏ xóm làng ra đi. Ra khỏi địa phận phạm vi Vua Cha cai quản, tìm một nơi thanh vắng để ở.
Hai vợ Chồng Chử Đồng Tử đi đến Nam Hải cách xa làng xóm không có người ở thời trời cũng vừa tối, hai vợ chồng chống gậy xuống đất, và lấy cái nón úp lên đầu gậy mục đích là che sương. Hai người tựa vào nhau mà ngủ.
Thương Nhau mấy núi cũng trèo
Mấy sông cũng lội vạn đèo cũng qua
Gặp thời kiếp nạn phong ba
Phải đành bỏ xứ tìm nơi an lành
Đôi tim nhịp đập chung lòng
Miễn sao có vợ có chồng là vui
Tựa lưng nằm ngủ qua đêm
Đến khi thức dậy đổi thay cuộc đời
Lầu đài cung điện sáng ngời
Tiểu đồng, thị nữ cả thời quân binh
Phép mầu kỳ lạ vô biên
Gậy Thần chiếc Nón làm nên diệu kỳ
Nói về hai vợ chồng Chử Đồng Tử tựa lưng vào nhau mà ngủ, đến quá nửa đêm. Hai vợ chồng thức tỉnh, thời thấy mình ở trong một cung điện lộng lẫy, có đủ thứ giường, sạp, màn tướng không thua gì cung điện nhà vua. Lại có cả Tiểu Đồng, Thị Nữ, và Binh Lính rộn rịp ngoài hành lang.
Sáng hôm sau hai vợ chồng ra ngoài cung điện để xem thời thấy có thành cao bao bọc, có Tướng Sĩ canh gác chẳng khác nào một tòa thành lớn. Từ đó Tiên Dung cùng Chử Đồng Tử sống bên nhau vô cùng hạnh phúc. Có thể nói Tiên Dung cùng Chử Đồng Tử đã dựng lên một triều đại mới còn hơn cả Hùng Duệ Vương. Tiếng đồn lan xa đến tai Hùng Duệ Vương.
Hùng Duệ Vương cho là làm phản liền sai quân đến đánh. Quân Văn Lang rầm rầm rộ rộ, khi kéo đến gần cung thành vợ chồng Chữ Đồng Tử ở thời trời cũng vừa tối lại nữa sông nước chảy xiết qua không được. Bằng đóng quân tại đó sáng sẽ qua. Đến nửa đêm trời nổi cơn dông sấm sét đầy trời cát bay đá chạy cây cối ngã đổ ầm ầm. Tòa lâu đài bỗng dưng biến mất chỉ còn lại bãi đất trống không, ở giữa đầm. Quân binh triều đình sáng ngày không nhìn thấy cung thành đâu nữa vô cùng kinh ngạc. Cho rằng vợ chồng Chử Đồng Tử đã dời đi nơi khác lấy làm kinh sợ. Nhưng quân Văn Lang nào có biết vợ chồng Chử Đồng Tử thâu lại bảo bối đồng bay về trời.
Nhân dân xa gần thấy điềm lạ cho rằng vợ chồng Chử Đồng Tử là tiên trời xuống thế, đã bay trở lại về trời lập miếu thờ to lớn ngay trên bãi đất trống.
– Đời sau con cháu Triệu Thuẫn là Triệu Việt Vương đóng quân ở Nam Hải thấy đầm đẹp liền cho quân ở đó, chống lại quân Tây Thục. Tiến đánh tướng lĩnh Tây Thục là Dương Lương. Nhưng chưa kịp đánh thời bị quân Tây Thục là Dương Lương vây đánh vô cùng nguy cấp. Triệu Việt Vương thiết đàn cầu Thần giúp. Bỗng thấy một vị Thần cưỡi Rồng hạ xuống đưa cho Triệu Việt Vương một cái móng vuốt Rồng và dặn: Ngươi cắm cái móng vuốt nầy lên chóp mũ, đi đến đâu thời quân Tây Lương tan đến đó.
Nói xong Vị Thần cưỡi Rồng bay lên trời, người cưỡi Rồng bay lên trời không ai khác hơn chính là Tiên Long ở trên Tiên Giới, cũng chính là Chử Đồng Tử khi còn ở chốn nhân gian.
Triệu Việt Vương nhờ có móng vuốt Rồng cắm lên chớp mũ, sức lực tăng lên bội phần, thanh thế mỗi ngày một lớn, mở rộng miền Nam Hải. Đánh bại tướng Dương Lương Tây Thục. Chém được nhiều tướng nữa, quân Dương Lương tan vỡ.
– Tây Thục Vương chính là Thục Phán mất cánh quân Dương Lương lâm vào thế yếu rút về Tây Nam Văn Lang
– Triệu Việt Vương thống nhất Trung Văn Lang. Trung Văn Lang từ đó về tay Triệu Việt Vương cũng chính là Triệu Đà, chỉ còn Nam Văn Lang. Hùng Duệ Vương cai quản Nam Văn Lang không được bao lâu, thời nhường cho An Dương Vương Thục Phán. Niên Đại Hùng Vương kết thúc 258 trước công nguyên.
92. ĐỨC VUA SA LA
Ngày xửa ngày xưa có một đất nước Sa La luôn bị các nước xâm lược, dẫn đến đói nghèo lạc hậu, khốn khổ triền miên.
Vua Sa La không biết làm cách nào chống trả quân xâm lược, cũng như giải thoát sự nghèo đói. Các quan cận thần liền tâu rằng tâu Quốc Vương Bệ Hạ, Quốc Vương Bệ Hạ nên lập đàn cầu nhân tài may ra mới cứu được đất nước chúng ta.
Vua Sa La liền làm theo bằng lập đàn cầu nhân tài, kể cả Thần, Thánh, tháng nào cũng cầu khẩn.
Cho đến một hôm từ trên không hạ xuống một người nói Ta là Đức Chúa. Vua Sa La mừng quá liền thỉnh mời vào cung điện tiếp đãi thật trọng hậu. Tiếp đãi xong rồi Đức Vua hỏi Đức Chúa có những tài gì. Đức Chúa nói Ta có thể chữa cho người câm biết nói, người mù sáng mắt, người điếc nghe lại, bệnh trong lục phủ, ngũ tạng ta đều chữa khỏi, với biệt tài trừ ma diệt quỉ, đằng vân giá vũ đi mây về gió thời ít ai sánh kịp Ta.
Vua Sa La nói Đức Chúa quả thật có nhiều phép lạ không ai có thể hơn được. Xin Đức Chúa chữa bệnh ngu căn bệnh chạy theo ngoại bang Quan, Quân, Dân của Trẫm để cho Quan, Quân, Dân của Trẫm hết ngu trở lại thông minh, tự đứng vững trên đôi chân truyền thống nước nhà, cùng nhau phát huy nội lực sẵn có của Dân Tộc mình, thời may ra đất nước mới bình yên được, cũng như đẩy lùi quân xâm lược, sánh vai với các nước láng giềng. Đức Chúa nghe xong rồi nói thưa Bệ Hạ. Sự yêu cầu của Bệ Hạ, Đức Chúa Tôi không đủ khả năng để chữa nổi căn bệnh ngu chạy theo ngoại bang xin xỏ nầy, xin xỏ kia, mất tánh tự chủ độc lập, đói nghèo là chuyện nhỏ, nô lệ mới là chuyện lớn căn bệnh ngu nầy khó chữa vô cùng may ra chỉ có Thiên Thần Vũ Trụ, chữa khỏi bệnh ngu nầy mà thôi. Đức Chúa nói xong bay lên không trung biến mất.
Vua Sa La nghe Đức Chúa giới thiệu chỉ có Thiên Thần Vũ Trụ mới chữa được căn bệnh ngu si, nhất là căn bệnh đánh mất lòng tự chủ độc lập chỉ biết hướng ngoại tôn thờ ngoại bang, thời lấy làm mừng ra sức cầu khẩn Thiên Thần Vũ Trụ, nhờ sự cầu khẩn kiên trì động đến Thiên Thần Vũ Trụ. Vua Sa La đang cầu khẩn thời có một người từ trên không đáp xuống nói Ta là Thiên Thần Vũ Trụ.
Vua Sa La lấy làm mừng lắm thỉnh mời Thiên Thần Vũ Trụ vào cung điện tiếp đãi đủ món ngon vật lạ thuộc hàng cao cấp hiếm quý, tiếp đãi xong Vua Sa La nói thưa Thiên Thần Vũ Trụ, Thiên Thần Vũ Trụ có những tài gì? Thiên Thần nói Ta có thể làm cho ban ngày trở thành ban đêm, như lấy tay che khuất mặt trời, dời non lấp biển, làm mưa làm gió, đi xuyên tường, ngồi trên lửa. Vua Sa La nghe Thiên Thần Vũ Trụ nói thế thời kinh hãi vái lạy rồi nói.
Thưa Thiên Thần Vũ Trụ: Quân, Dân, Thần Tướng, của Trẫm mắc chứng bệnh ngu, căn bệnh chạy theo ngoại bang làm cho đất nước không yên, chia bè rẽ phái đấu đá lẫn nhau, sanh ra nghèo đói, bọn ngoại xâm thấy thế coi thường, lấn lần đất đai xâm lấn biên cương. Xin Thiên Thần Vũ Trụ chữa căn bệnh ngu đã ăn sâu vào tủy não, Quân, Dân, Thần Tướng, của Trẫm. Trẫm vô cùng biết ơn.
Thiên Thần Vũ Trụ nghe xong rồi nói căn bệnh ngu nầy mới nghe thời không có gì, nhưng thật ra một thứ bệnh phải nói là vô cùng khó chữa. Thần có thể làm cho nhân loại khiếp sợ vì thần thông pháp thuật của Thần. Nhưng với căn bệnh ngu nầy thời Thần không thể nào chữa khỏi được có thể nói ngoài tầm tay. May ra chỉ có các vị Thiên Tiên mới chữa khỏi nói xong Thiên Thần Vũ Trụ biến mất.
Vua Sa La không nản chí tiếp tục khẩn cầu lên các vị Thiên Tiên, không bao lâu thời thấy một người từ trên không bay xuống nói Ta là Thiên Tiên trên trời thấy Đức Vua thành tâm cầu khẩn nên Ta mới đến đây. Vua Sa La nghe nói Thiên Tiên trên trời thời mừng lắm liền mời vào cung điện tiếp đãi long trọng, nào là đờn ca sáo thổi, nào là cung phi mỹ nữ hát múa, món ngon vật lạ đủ thứ, chẳng thiếu món chi. Tiếp đãi xong Vua Sa La nói Thiên Tiên có những tài gì? Thiên Tiên nói Ta có rất nhiều bảo bối. Vị Thiên Tiên lấy ra một bầu hồ lô nói bầu hồ lô nầy có thể hút sạch nước biển. Cũng có thể làm cho trái đất ngập chìm trong biển nước. Vị Thiên Tiên lấy ra một túi vải nói, với bảo bối đảy càn khôn nầy Ta có thể hút hết nhân loại, chim muôn, vạn thú vào túi mà cũng chưa đầy. Vị Thiên Tiên lại lấy ra một cái quạt nói đây là quạt càn khôn, chỉ cần quạt một cái là sạt núi, quạt hai cái là cây cỏ chẳng còn bị cuồng phong cuốn đi sạch bách, Vị Thiên Tiên liền lấy ra một gậy Thần rồi nói Ta chỉ cần động đầu gậy nầy xuống đất ba cái tức thời lầu đài cung điện hiện ra, có cả quân canh lính giác. Vua Sa La lấy làm kinh khiếp bằng nói, quả là Thiên Tiên có khác thần thông pháp thuật vô biên. Vua Sa La liền thưa rằng thưa Thiên Tiên. Thiên Tiên hãy làm cho Quan, Quân, Dân của Trẫm hết chứng bị ngu. Nhất là bệnh quên Cội quên Nguồn. Cha Ông thời bỏ, ngoại bang thời mơ thời tưởng chạy theo. Kẻ thời chạy theo nước nầy người thời chạy theo nước kia. Ngu đến nỗi chỉ biết tôn thờ ngoại bang mà quên mất Ông Cha có công dựng nước giữ nước Truyền Thống Anh Linh thời ngó lơ không nghĩ tới, chỉ lo chạy theo xu thế tôn thờ tà thuyết ngoại bang, làm cho đất nước tan hoang nghèo đói lạc hậu, thấy giặc ngoại xâm thời sợ cũng do chứng bệnh ngu mà ra, xin Thiên Tiên trị liệu giùm cho đất nước Sa La mang ơn mãi mãi.
Vị Thiên Tiên nghe xong rồi nói với chứng bệnh ngu nầy thời Thiên Tiên tôi đành phải bó tay không cách gì cứu chữa được. May ra chỉ có hàng Đại Thánh mới chữa khỏi được, nói xong vị Thiên Tiên biến mất.
Vua Sa La không nản chí tiếp tục lập đàn tế lễ khẩn cầu lên các vị Đại Thánh không bao lâu thời thấy một người từ trên trời hiện xuống nói Ta là Đà La Đại Thánh. Đức Vua Sa La nghe nói Đà La Đại Thánh thời lấy làm mừng rỡ liền mời Đa La Đại Thánh vào cung điện tiếp đãi tận tâm nào là món ngon vật lạ, nào là đàn sáo, ca múa tán dương Đại Thánh. Tiếp đãi xong Đức Vua Sa La liền nói Đà La Đại Thánh có tài gì? Đà La Đại Thánh nói Ta có thể làm cho muôn dân sống trong trật tự, làm cho quỉ, ma khiếp sợ, làm cho thiên hạ hướng về một mối lập nên đất nước như không, dân yếu Ta có thể làm cho dân mạnh. Đức Vua nghe xong lấy làm mừng cái tài của Đà La Đại Thánh không ai hơn được. Căn bệnh ngu của Quan, Quân, Dân Chúng có thể chữa được rồi thật là may mắn cho đất nước Sa La. Đà La Đại Thánh nghe đến bệnh ngu thời lắc đầu. Thứ bệnh nầy khó chữa lắm may ra Phật mới chữa được. Còn Đà La Đại Thánh Ta thời chịu thua nói xong thời biến mất.
Đức Vua Sa La bằng lập đàn cầu Phật, cầu ngày cầu đêm, đang cầu thời Đức Phật hiện ra nói Ta là Phật Hà Sa. Đức Vua Sa La lấy làm mừng lắm, liền thỉnh Đức Phật vào cung điện tiếp đãi vô cùng trọng hậu Đồ ăn thức uống đủ món chế biến cầu kỳ, trái cây đủ màu trăm loại, ngũ cốc quý hiếm trăm thứ, hoa tươi trăm bó thơm ngát. Tiếp đãi xong Đức Vua Sa La liền nói Đức Phật có những tài gì. Đức Phật nói tài gì Ta cũng có, biết quá khứ, hiện tại, vi lai, như ở trước mắt, thấy rõ tam thiên đại thiên thế giới như trong lòng bàn tay, tai nghe khắp vũ trụ, biết tất cả các thứ tiếng dù cho đó là tiếng của cầm, thú, bò sát, sâu bọ. Ta có thể chỉ cho con người đi đến giải thoát sanh tử đi đến trường sanh an vui tự tại. Đức Sa La nghe phật Hà Sa nói thế lấy làm mừng lắm. Bằng nói xin Đức Phật chữa trị bệnh ngu. Quan, Quân, Dân của Trẫm khai mở tâm trí huệ, tự mình đứng vững trên đôi chân của mình không còn chạy theo ngoại bang. Phát huy nội lực, tiến đến dân giàu nước mạnh, theo kịp các nước văn minh, không còn lệ thuộc ngoại bang, cũng như đánh đuổi ngoại xâm, giữ vững độc lập muôn năm trường tồn bất diệt, rạng danh dân tộc Sa La.
Đức Phật nghe xong rồi nói. Cái Tánh Ngu Si đã là khó chữa, huống chi nó đã ăn sâu nhiều đời nhiều kiếp Phật Ta đành chịu thua. Nhưng Ta có thể chỉ cho Vua một người, người ấy đã sanh xuống nhân gian chỉ là người nông dân bình thường. Chính là Đức Chí Tôn đầu thai làm theo Thiên Ý Cha Trời. Đức Vua hãy đến thôn Bất Tử, núi Cô Độc, Xã Minh Sáng mà cầu người ấy. Nói xong Đức Phật biến mất.
Nói về thôn Bất Tử, núi Cô Độc, Xã Minh Sáng có một người nông dân sống giản dị bình thường. Thiên Hạ mơ sống giàu sang, còn ông ấy thời sống nghèo nàn cũng được. Người ta thích đua đòi ăn mặc sung sướng, còn ông thời suốt ngày năm tháng với bộ quần áo rẻ tiền. Người ta thời thích những đặc sản cao lương mỹ vị nem rồng chả phụng. Còn ông ấy chỉ thích tương rau qua ngày. Vua Sa La tìm đến nhìn thấy rồi định bỏ đi vì sự giản dị của ông ấy. Nhưng không lẽ Phật lại chỉ sai bằng quay trở lại vào gặp người nông dân rồi hỏi, người có phải là Đức Chí Tôn đầu thai xuống chốn nhân gian không? Người nông dân không trả lời ngâm bài thơ nông dân.
Người, nón, cuốc, thường kết bộ ba
Thi nhau lo chuyện, nước non nhà
Đất rộng sông dài, ngang dọc bước
Mưa gào nắng gắt, vẫn xông pha
Đạp sóng trùng dương, dời biển cả
Chuyển cao lấp trũng, đất bằng ra
Nước có nước không, thường như ý
Vung tay rừng mọc phủ hà sa
Dưới bùn sen nở, nào ai biết
Ngu hèn tài trí, khéo nhìn ra
Kỳ nhân thế sự, thường là thế
Nông dân đâu thể, chẳng tài ba
Đức Vua Sa La nghe xong bài thơ liền quỳ xuống nói xin Đức Chí Tôn cứu nước Sa La.
Người nông dân liền mời Đức Vua đứng dậy rồi nói Đức Vua không nên quỳ như thế Tạo Hóa sinh ra đều bình đẳng, và cũng đã ban cho con người những Quyền về Quyền con người không ai khác ai, ai cũng như ai biết tôn trọng nhau là đúng luật. Đã là Đức Vua người nắm giữ Công Lý ban hành Công Lý không nên hạ mình như thế. Chân mệnh Thiên Tử chính là con Trời thừa hành di chí của Trời làm theo Thiên Ý của Trời cứu dân độ thế. Con người sinh ra ai cũng có phần hồn, phần xác. Phần thể xác dưỡng nuôi bằng vật chất, phần Linh Hồn thời dưỡng nuôi bằng Văn Hóa.
Một Dân Tộc dù giàu có cho mấy mà thiếu đi Văn Hóa Chính Nghĩa thời tai hại vô cùng. Không nói là dẫn đến ngu si. Một đất nước nghèo đến đâu mà có Văn Hóa Cội Nguồn Chính Nghĩa, thời đất nước ấy trở nên dân giàu nước mạnh, không có đất nước nào địch nổi.
Ta có bảy bộ kinh thơ chữa trị căn bệnh ngu đã ăn sâu trong linh hồn vô lượng kiếp. Nhà Vua đem về truyền dạy cho hàng Vương, Quan, Quân, Dân, cùng nhau ra sức tu học thời căn bệnh ngu si biến mất không còn, ai nấy cũng trở nên thông minh, trở thành Dân Tộc Thần Thánh. Bất Chiến Tự Nhiên Thành, quân thù không cần đánh tự lui.
Việc truyền bá nầy không những trị hết căn bệnh ngu si Vương, Quan, Tướng Tá, Dân Chúng mà còn tiến tới dân giàu nước mạnh độc lập lâu dài. Nhờ truyền Thiên Ý Đức Vua thêm phước phần to lớn. Khi mãn kiếp trần trở về trời làm vua cõi trời cai quản Thiên Chúng an vui tự tại. Đức Vua Sa La bừng tỉnh ngộ không phải có thần thông quảng đại, phép tắc vô biên mà chữa được căn bệnh ngu si của nhân loại. Mà phải có Văn Hóa Cội Nguồn Văn Hóa Thiên Ý mới chữa khỏi căn bệnh ngu si mà thôi, trong ba căn bệnh Tham Lam, Sân Hận, Ngu Si, thời bệnh Ngu Si là anh cả hai căn bệnh kia. Căn Bệnh Ngu Si mà chữa khỏi, thời hai căn bệnh kia cũng tự biến mất.
Đức Vua trở về cung ra lệnh cho các Vương, Quan, Tướng Tá, truyền bá Văn Hóa Cội Nguồn khắp cả nước. Dân Sa La đọc tới đâu thời bệnh ngu tiêu tan đến đó càng đọc càng sáng càng thông minh, tiến tới cảnh dân giàu nước mạnh trở thành dân tộc Thần Thánh vang lừng thế giới, quân thù không cần đánh tự lui. Thái bình thịnh trị độc lập âu ca.
93. CÔNG CHÚA TIÊN NGA
Ngày xửa ngày xưa có một ông Vua Ô Kê nhân từ hiền đức thương dân hết mực, nhìn Hoàng Hậu Ê Ly mang thai luôn mơ ước nếu sinh được con trai thời uy nghi như Thần Tiên giáng thế, nếu sinh là gái thời đẹp như Tiên Nga.
– Sự mơ ước ấy đã trở thành sự thật Hoàng Hậu Ê Ly sinh ra một vì Công Chúa xinh đẹp như ước mơ của Đức Vua. Vua Ô Kê đặt tên cho con là Tiên Nga. Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, không những xinh đẹp tuyệt trần lại còn thông minh khác thường văn hay chữ tốt, cầm, kỳ, thi, họa, không ai sánh bằng, công, dung, ngôn, hạnh, không ai sánh kịp. Tấm lòng thương người vang dội nước Ô Kê, Vua và Hoàng Hậu yêu quý Công Chúa Tiên Nga còn hơn cả mạng sống của mình.
– Sắc đẹp, tài, đức, vẹn toàn vang danh khắp chốn vang dội núi rừng đến tai Ác Lai phù thủy, mụ liền tìm đến cung vua hóa thành một người tướng số, vai mang xách châu báu, xin gặp Đức Vua Ô Kê và Hoàng Hậu Ê Ly. Đức Vua và Hoàng Hậu liền cho người mời vào hỏi chuyện quá khứ, hiện tại, vi lai. Mụ phù thủy Ác Lai trổ tài nói đâu trúng phóc đó Vua và Hoàng Hậu tin rấm rót, khen không hết lời.
Hoàng Hậu nói Ta có cô Công Chúa tuổi cập kê tương lai không biết ra làm sao, Ác Lai phù thủy nói chuyện đó thời quá dễ chỉ cần dẫn Công Chúa đến đây xem qua thời biết tương lai. Hoàng Hậu liền cho người mời Công Chúa đến.
Thầy tướng số Ác Lai phù thủy vừa nhìn thấy Công Chúa thời không khỏi giật mình người gì mà đẹp quá vậy quả là lời đồn không sai, bằng muốn cướp lấp xác thân Công Chúa Mụ Phù Thủy Ác Lai tính mưu tính kế bằng nói tôi đã xem rồi, những gì tôi nói ra Công Chúa không được nghe, vì Công Chúa nghe sẽ xảy ra nhiều tai họa. Vua và Hoàng Hậu cho Công Chúa lui, khi Công Chúa đi rồi thầy tướng số Ác Lai phù thủy nói Công Chúa không phải là người đâu trên đầu có yêu khí có thể là yêu tinh đầu thai nhờ thần thông biến hóa mới xinh đẹp như vậy.
Không tin Hoàng Hậu đeo chiếc vòng nầy vào tay Công Chúa, nếu Công Chúa không hiện lại nguyên hình, thời không phải là yêu tinh. Nói xong thầy tướng số Ác Lai phù thủy lấy ra một chiếc vòng ngọc xinh đẹp tỏa ánh sáng lung linh trao cho Hoàng Hậu. Với nụ cười bí hiểm nói. Nếu Công Chúa hiện nguyên hình là yêu tinh đừng làm hại Công Chúa mà làm cho Công Chúa một ngôi nhà trên rừng sâu nơi không có người đến để cho Công Chúa ở đó.
Một hôm Công Chúa đang ngồi vẽ tranh, thời Hoàng Hậu Ê Ly vào phòng nói với Tiên Nga con hãy đeo chiếc vòng nầy vào tay. Tiên Nga nói con xưa nay không thích đeo vòng tay. Hoàng Hậu càng sinh nghi không lẽ nó là yêu tinh thật nên sợ đeo vòng vào tay. Hoàng Hậu liền cầm tay con gái đeo chiếc vòng vào tay Tiên Nga. Tức thời Tiên Nga rú lên một tiếng hiện thành một cô gái xấu xí nhìn thấy là ghê tởm. Hoàng Hậu khiếp kinh hãi hùng ngất xỉu hồi lâu mới tỉnh. Khi tỉnh lại nhìn cô gái xấu xí hỏi chiếc vòng trên tay của cô đâu. Cô gái xấu xí nhìn Hoàng Hậu khóc nức nở con không biết. Hoàng Hậu ra khỏi phòng Công Chúa nói với Đức Vua nhất định là yêu quái đầu thai rồi, Đức Vua cũng lấy làm kinh sợ, nhưng vì quá thương con nên không nở giết đi. Nhớ lại lời người xem tướng bằng đưa Công Chúa đến một nơi thật xa trên rừng làm nhà trên ấy cho Công Chúa ở.
– Công Chúa trước khi bị quân lính đưa đi nhìn Cha Mẹ nước mắt chảy ròng ròng. Đức Vua Hoàng Hậu bỏ đi. Công Chúa liền ngâm mấy dòng thơ.
Con biết nói sao, do bởi chiếc vòng
Biến con gớm ghiếc, đau lòng mẹ cha
Con nào có phải yêu tinh
Mà con của mẹ cưu mang sinh thành
Nay rời xa, cung vàng điện ngọc
Vào rừng sâu, đày đọa thân hình
Sống đời cô độc một mình
Heo mây gió núi gập ghềnh gian nan
Cầu cho cha mẹ bình an
Sống lâu hạnh phúc ngập tràn niềm vui
Đức Vua, Hoàng Hậu nghe Công Chúa đọc thơ lòng đau như cắt, tiếng quân binh xa lần mất hút, Đức Vua nhìn Hoàng Hậu chỉ biết thở dài.
Nói về Tiên Nga giờ đây chỉ còn lại một nơi núi rừng không một bóng người, ngồi trong ngôi nhà được quân binh dựng lên cách xa cung thành hàng mấy mươi dặm. Tiên Nga lủi thủi một mình trong cô quạnh sống cùng cây rừng gió núi, ngày nghe khỉ hú tối nghe cọp gầm. Lương thực ăn hết cạn lần cuối cùng rồi cũng hết.
Công Chúa vốn tay yếu chân mềm ngồi cô đơn một mình chờ trông có người đem lương thực đến, như chờ mãi chờ mãi mà không thấy bụng đói như cồn mà chẳng lấy gì ăn. Bỗng đâu đàn chim bay đến nơi những quả chín thả trước mặt Công Chúa. Công Chúa lượm lên ăn, ngày lại ngày qua đã hơn một tháng bỗng trước mặt Công Chúa một người hiện đến chính là mụ Ác Lai phù thủy. Công Chúa liền nhận ra nói té ra là ngươi. Mụ phù thủy Ác Lai nói ngươi quả có con mắt hơn người nên mới nhận ra Ta là thầy tướng số đã vào cung.
Công Chúa lặng thinh không nói gì. Mụ phù thủy Ác Lai nói với Tiên Nga, cũng tại ngươi quá xinh đẹp, đẹp đến nổi ai cũng muốn có được ngươi. Đẹp quá cũng là một cái họa. Nếu trong vòng ba năm không có người đến cứu, thời sắc đẹp của ngươi sẽ thuộc về Ta. Còn linh hồn ngươi sẽ bị ta nhốt vào lồng phép vĩnh viễn.
Người cứu được ngươi phải là chàng trai anh dũng vượt qua bao thử thách gian nan lại hết lòng yêu ngươi. Thời chiếc vòng kia sẽ nổ tung pháp thuật của ta bị lòng chân thật của chàng trai hóa giải Ta sẽ chết ngươi trở lại xinh đẹp như xưa. Nhưng điều nầy không bao giờ xảy ra không ai dại gì vượt qua bao gian nan thử thách để đến với người con gái xấu xí đến phát kinh, ngươi sẽ cô đơn sầu khổ những tháng ngày trong khu rừng nầy đến khi sắc đẹp của ngươi bị Ta chiếm lấy, nói xong thời mụ phù thủy biến mất. Công Chúa bây giờ đã rõ tất cả sự mưu mô Ác độc của mụ phù thủy.
Công Chúa thầm nguyện cầu Trời, cầu Mẹ Đất che chở cho qua tai kiếp, từ đó Tiên Nga Công Chúa lủi thủi một mình sống trong rừng sâu, làm bạn với đàn chim lạ.
– Lại nói về một vùng quê hẻo lánh có cặp vợ chồng Ông Bà Nhân chỉ sống bằng nghề đốn củi đổi lấy gạo ăn, nhưng vô cùng tốt bụng ai cũng mến thương. Sanh được một cậu con trai tên là Kiên Trung. Kiên Trung càng lớn càng khôi ngô tuấn tú khỏe mạnh hơn người, nhưng vì nhà quá nghèo khó mà kiếm được vợ.
Có một hôm Kiên Trung cùng Cha lên rừng đốn củi liền nghe tiếng kêu cứu Kiên Trung liền chạy tới thời thấy một con chim đang dính bẫy không thể nào thoát được, Kiên Trung nhìn xung quanh không có ai bằng hỏi con chim ngươi biết nói tiếng người. Con chim gật đầu, Kiên Trung liền giải cứu. gở cái bẫy cho con chim thoát ra. Nào hay con chim không bay đi nói với Kiên Trung rằng, ta không có gì để đền ơn, thôi thì ta kể một mẫu chuyện rất hay cho ân nhân nghe. Kiên Trung lấy làm kinh ngạc hỏi lại, con chim như ngươi mà cũng biết kể chuyện hay sao đúng là chuyện lạ trên đời. Thôi chim kể đi Ta sẽ ngồi lắng nghe.
Con chim kể rằng Vua Ô Kê có một người Công Chúa vô cùng xinh đẹp tên là Tiên Nga, vì quá đẹp nên mụ phù thủy Ác Lai muốn chiếm đoạt sắc đẹp ấy. Biến Công Chúa thành một người xấu xí ai nhìn thấy cũng ghê tởm Vua Ô Kê và Hoàng Hậu Ê Ly tưởng Công Chúa là yêu tinh đầu thai.
Bằng đày vào rừng sâu sống một mình đêm thời nghe tiếng cọp gầm, ngày thời nghe vượn hú, tháng ngày làm bạn với gió núi cây rừng, thật tội nghiệp cho Công Chúa Tiên Nga tháng ngày sống trong cô đơn, không một bóng người lai vãng, may nhờ đàn chim chu cấp trái cây nên Công Chúa mới sống được tới ngày hôm nay.
Công Chúa nghĩ mình quá xấu xí dù cho ra khỏi khu rừng xuống đồng bằng thời ai ai cũng xa lánh, nói gì đến có chồng ai mà ưng. Thôi thì ở mãi trong rừng sâu cho đến ngày ra đi từ giả cõi trần, Công Chúa ở trong khu rừng đến nay gần được ba năm rồi theo lời nguyền của mụ phù thủy nếu trong vòng ba năm không có người đến cứu thời coi như Công Chúa không còn trên đời vì thân xác Công Chúa trở thành thân xác của Mụ Phù Thuỷ Ác Lai. Lại nữa đàn chim sẽ không đến vì sắp đi xa tìm nguồn thức ăn, Công Chúa tay yếu chân mền làm sao kiếm được thức ăn. Không may bị cọp sói xơi mất, thật là tội nghiệp.
Kiên Trung càng nghe càng ứa nước mắt, liền hỏi con chim Công Chúa hiện giờ ở đâu. Con chim nói từ đây đến đó rất xa, đường đi toàn là rừng núi. Kiên Trung cương quyết nói tôi quyết đi tìm Công Chúa. Con Chim nghe Kiên Trung nói thế liền chỉ đường cho Kiên Trung.
Kiên Trung trở về nhà kể lại câu chuyện Công Chúa lâm nạn rồi nói, Thưa Cha Mẹ gia đình mình nghèo làm gì có tiền cưới vợ, chi bằng con đi vào rừng sâu dẫn Công Chúa về đây chung sống với gia đình mình. Theo con nghĩ xấu tốt cũng là con người, biết bao nhiêu người xinh đẹp nhưng lòng lại rất xấu.
Cha Mẹ Kiên Trung nghe con nói thế thời lấy làm xót xa vì nhà quá nghèo khó mà cưới được vợ cho nó. Nên nó đành phải đi tìm người con gái xấu xí kia.
Kiên Trung khăn gói lên đường đi được một ngày thời gặp một người đi ngược chiều từ xa đi đến hỏi ra mới biết người ấy tên Lúa, Đức Trung hỏi ông bạn có biết khu rừng âm u không? Người ấy nói tôi từ khu rừng ấy trở về thật ra chẳng có gì như người ta đồn chỉ có một người con gái phải nói là quá xấu, xấu còn hơn quỉ dạ xoa tôi thà lấy ma còn hơn lấy người con gái ấy. Người tên Lúa nói về đi ông bạn không đem lại kết quả gì đâu.
Kiên Trung nói cảm ơn ông bạn đã cho tôi biết thêm những gì tôi cần biết. Kiên Trung không trở về mà còn đi tiếp, đi một đổi đường khá xa liền gặp một người thanh niên đang ngồi nghĩ hỏi ra mới biết người thanh niên ấy tên Ngô. Kiên Trung liền hỏi thưa anh Ngô khu rừng âm u còn xa không? Người thanh niên tên Ngô nói còn rất xa tôi từ chỗ ấy đến đây thật không sao tưởng tượng được tôi đã mất công tìm đến khu rừng âm u nghe nói người con gái ấy rất xấu tôi tưởng rằng có thể ưng được nào hay đâu vừa nhìn thấy tôi đã bỏ đi không nhìn lại, nói xong người ấy bỏ đi.
Kiên Trung nhìn theo có chiều suy nghĩ. Nhưng nhớ lại câu chuyện con chim kể thời vô cùng xúc động liền tiếp tục lên đường tìm đến khu rừng âm u. Đi được một đổi khá xa thời thấy một người đi ngược chiều từ xa đi tới, hỏi ra mới biết người thanh niên ấy tên Khoai. Kiên Trung hỏi thưa anh Khoai khu rừng âm u còn xa không? người ấy nói không còn xa nữa đâu đi hơn nữa ngày nữa là tới. Tôi đã đến nơi ấy rồi vừa nhìn thấy cô ta là tôi chạy té khói. Xấu ơi là xấu làm sao mà lấy làm vợ được, trông chẳng khác nào quỉ sứ yêu tinh, người ấy nói xong thời bỏ đi.
Kiên Trung gặp ba người, người nào người nấy đều khuyên mình trở lại phí sức bỏ công vô ích cho chuyện không đâu đôi khi còn mất mạng, đôi lúc Kiên Trung muốn bỏ cuộc. Nhưng nhớ đến lời con chim kể Kiên Trung quyết lòng không bỏ cuộc chịu đói chịu khác vượt qua không biết bao nhiêu là đồi rừng may thay trước mặt nhìn thấy một cái quán nhỏ bên đường bằng ghé vào nghỉ mệt.
Tiền đâu mà ăn mà uống chỉ lấy nắm xôi cất trong mình ra ăn cho đỡ đói. Vô tình nghe người ta bàn tán người bận áo đen nói thật tội nghiệp cho ba chàng trai tìm chưa thấy Công Chúa xấu xí thời bị cọp xơi mất một mạng. Hai chàng trai còn lại chạy té khói quên sống quên chết thế mà quỷ chẳng tha, ma lại bắt vẹn cổ chết thê chết thảm bỏ xác nơi rừng hoang, cha mẹ ở nhà chờ trông không thấy con trở về buồn rầu thương nhớ lắm. Công Chúa chỉ là cái hư danh vì Vua Ô Kê đã bỏ cô từ lâu, đâu còn là Công Chúa nữa, thật ra mà nói người con gái kia giờ đây chỉ là một người con gái xấu xí gần ba năm ăn đói ăn khác nghèo xơ nghèo xác chẳng có một đồng trong túi ngon lành gì mà ba chàng trai kia đánh đổi sanh mạng ngu ơi là ngu, ngu hết chỗ nói.
Chết bỏ mạng không đáng cha mẹ ở nhà trông đợi đau xót biết bao. Kiên Trung nghe những lời ấy không khỏi thối chí muốn quay trở về. Nhưng nghĩ đến lời kể của con chim Công Chúa sẽ chết lần chết mòn trong rừng nếu không có người đến cứu. Thân là Công Chúa mà phải chịu nhiều đau thương như vậy. Kiên Trung như hồi sanh nghị lực quyết cứu Công Chúa cho bằng được vụt đứng lên nhắm hướng rừng âm u đi tới, hoàng hôn buông xuống mặt trời sắp lặn, bóng ma quỉ chập chờn thấy mà phát khiếp Kiên Trung là người can đảm nhưng cũng phải nổi da gà.
Bóng đêm bao trùm tiếng hổ gầm rung chuyển, tiếng thở phì phèo của loài rắn dữ. Kiên Trung trèo lên cây một đêm không ngủ thân thể vô cùng mệt mỏi. Mặt trời đã lên cao Kiên Trung tiếp tục lên đường bỗng nghe tiếng la ré kêu cứu Kiên Trung liền chạy đến nhìn thấy một con rắn rượt theo một người con gái Kiên Trung liền dùng gậy đập chết.
Cô gái với làng da trắng nuốt trông thật là xinh đẹp ôm mặt khóc, kể rằng tôi là con Phú Hộ đang đi chơi bị cơn lốc cuốn bay đến đây tôi đang tìm đường trở về nhà thời bị con rắn nầy rượt theo để nuốt. May nhờ chàng cứu mạng thiếp mới còn. Thiếp đã nguyện ai cứu thiếp, thiếp sẽ ưng người đó, cha Thiếp giàu có chỉ có một mình Thiếp là con một. Kiên Trung nghĩ được làm chồng cô gái nầy thời còn gì bằng chuột sa hủ nếp một sức mà hưởng thụ. Cô gái tưởng Kiên Trung sẽ lấy mình làm vợ bằng chạy tới nắm lấy tay hai ta đi thôi. Kiên Trung hỏi đi đâu người con gái nói đi về nhà Thiếp chớ còn đi đâu nữa. Kiên Trung nhìn cô gái xinh đẹp thời nghĩ rằng khối chàng trai quỳ lạy dưới chân, còn người con gái xấu xí kia thời không ai nhìn ngó tới, làm gì có sự may mắn như người con gái xinh đẹp nầy.
Bằng nói Cô đi về nhà đi để cha mẹ Cô trông đợi. Người con gái xinh đẹp bực mình nói xinh đẹp như ta mà không ưng lại đi tìm người con gái xấu xí quả là tâm thần nói xong người con gái xinh đẹp bỏ đi. Kiên Trung vô cùng kinh ngạc không hiểu vì sao cô gái ấy biết mình đi tìm người con gái xấu xí. Kiên Trung một mình lủi thủi nhắm hướng rừng xanh âm u đi đến, trên đường đi Kiên Trung phớt lờ tất cả tai như không nghe, mắt như không thấy, ý chuyên nhất là tìm gặp người con gái xấu xí. Bỗng trời nổi cơn dông sấm sét ầm ầm mây đen cuồn cuộn, mưa như trút Kiên Trung ước như con chuột lột tả tơi như đàn chim gãy cánh. Nhưng chân vẫn cứ bước sức mạnh tình thương đã hóa giải bao phép thuật của mụ phù thủy.
Kiên Trung nhìn thấy căn nhà cũ kĩ một người con gái tựa cửa, như chờ đợi một bóng hình xa xa. Và Công Chúa Tiên Nga đã nhìn thấy một chàng trai từ xa đi tới, tim Công Chúa rộn lên, như cây khô lâu ngày đâm chồi ra lá. Công Chúa liền chạy ra đón chàng trai như đón người thân từ xa đến. Nhưng Công Chúa liền khựng lại vô cùng xấu hổ. Công Chúa cúi mặt xuống đất, định quay trở lại vào nhà. Bỗng Công Chúa nghe tiếng nói ngọt ngào từ chàng trai xa lạ. Công Chúa đừng vội trở vào nhà. Tôi vượt đường xa đến đây không phải là đến để xem mặt Công Chúa. Mà là đến đây để cầu hôn, tôi không chê sự xấu xí, càng xấu xí tôi lại càng yêu thương. Công Chúa nghe chàng trai nói thế nước mắt ràn rụa. Chàng Trai không quan tâm đến khuôn mặt xấu xí của Công Chúa liền bước tới lau nước mắt cho Công Chúa, nắm lấy tay Công Chúa, thấy tay Công Chúa mềm mại vô cùng bàn tay tuyệt đẹp, da trắng mịn như trứng gà bóc, da Công Chúa trắng như tuyết, thân hình mảnh mai đẹp lạ lùng, cầm lòng không được chàng trai hôn lên bộ mặt xấu xí. Tức thời một tiếng nổ vang lên, Công Chúa hiện lại nguyên hình. Chiếc vòng gảy ra từng khúc, mụ phù thủy hiện ra gào thét, cuối cùng trào máu họng ngã lăn ra chết tươi. Bầy chim sa xuống mổ vào mắt mụ phù thủy, rồi bay đi mất dạng. Cọp, sói kéo đến chúng tranh nhau xé xác Mụ Phù Thủy nuốt sạch vào bụng không còn cái xương.
Chàng trai chính là Kiên Trung, quá bất ngờ trước sự việc xảy ra nhìn sửng Công Chúa Tiên Nga. Miệng lẩm bẩm ta đang nằm mơ đây chăng. Công Chúa Tiên Nga mỉm cười nói không nằm mơ đâu hai ta đang nắm lấy tay nhau đây mà. Thế là hai người trở thành vợ chồng chung sống với nhau trong túp lều cũ kĩ.
Công Chúa ở nhà, còn Kiên Trung thời đi săn bắn hái lượm hai người chung sống với nhau thật là hạnh phúc, được ba tháng Kiên Trung nhớ đến cha mẹ ở nhà, liền nói với Tiên Nga anh đưa em về quê anh để sống Tiên Nga nói chàng đâu thời thiếp đó cuộc đời em gian khổ đã quen.
Hai người chửng bị lên đường thời nghe tiếng quân binh rầm rộ kéo đến. Đức Vua Ô Kê cùng Hoàng Hậu Ê Ly nhìn thấy Tiên Nga vẫn còn sống xinh đẹp như xưa thời mừng lắm. Chạy tới nói Cha, Mẹ đã hiểu lầm về con tất cả là tại cái vòng, Cha đã thông suốt mẫu Hậu cũng vậy, hãy tha thứ cho Cha và Mẹ.
Công Chúa bật khóc nói con biết Phụ Vương và Mẫu Hậu hiểu lầm, là do tên mụ phù thủy giả làm thầy tướng số kia. Mụ đã bị Trời xử tử. Công Chúa kể lại tất cả những âm mưu của mụ phù thủy cũng như cái chết của mụ cọp sói xé xác đàn chim mổ mắt.
– Công Chúa Tiên Nga nắm lấy tay Kiên Trung đến trước mặt Cha và Mẹ nói người nầy đã cứu con thoát khỏi bàn tay của mụ phù thủy.
– Đức Vua Ô Kê cùng Hoàng Hậu Ê Ly nhìn thấy Kiên Trung tướng mạo khôi ngô tuấn tú thời lấy làm vừa lòng. Đức Vua Ô Kê đưa vợ chồng Kiên Trung về cung được mấy hôm thời phong làm Phò Mã, chính thức làm con rễ Vua Ô Kê.
– Nói về Ông Bà Nhân Cha Mẹ Kiên Trung vô cùng lo lắng Kiên Trung ra đi đến nay gần hai năm mà chưa thấy trở về không biết chuyện gì đã xảy ra, ngày đêm cầu khẩn đất trời phù hộ cho Kiên Trung.
– Cho đến một hôm Ông Bà Nhân Cha, Mẹ Kiên Trung thấy nhiều binh lính cũng như xe kiệu vô cùng sang trọng, chạy thẳng vào nhà mình thời khiếp hãi không biết chuyện gì xảy ra.
– Binh lính xe kiệu đã vào đến sân, từ trên chiếc kiệu bước xuống một người con gái vô cùng xinh đẹp như Tiên Nga giáng trần tay bồng em bé. Người con gái xinh đẹp trao em bé cho thị nữ, rồi quỳ lạy nói con là con dâu của Cha, Mẹ, vợ của anh Kiên Trung, con đến trễ để cho Cha, Mẹ khổ. Ông Bà Nhân Cha Mẹ Kiên Trung nói tiểu thơ đã nhầm nhà rồi. Con tôi tên là Kiên Trung làm gì có người vợ xinh đẹp như vậy. Như nhớ lại chuyện xưa ồ lên một tiếng thì ra đây là Công Chúa Tiên Nga. Công Chúa nói chính là con. Ông Bà Nhân Cha Mẹ Kiên Trung nhìn đứa bé nói nó giống Kiên Trung quá liền hỏi, Kiên Trung đâu sao không đi với con để con đi một mình. Công Chúa Tiên Nga nói thưa Cha, Mẹ, anh Kiên Trung hiện giờ đang ở biên cương thống lãnh quân binh dẹp loạn, con thay mặt chồng con đến đây đón rước Cha, Mẹ về cung.
– Xóm làng hay tin kéo đến rất đông chật trong chật ngoài Công Chúa đem vàng bạc phân phát cho dân ai nấy cũng vui mừng nhất là trằm trồ mãi sự xinh đẹp của Công Chúa. Ông Bà Nhân lên xe phất tay chào bà con lối xóm theo Công Chúa trở về cung, dân làng nhìn theo cho đến khi mất hút có người nói ăn ở có đức không sức mà hưởng.
94. ĐỈNH CAO CỦA SỰ TU HÀNH
Vào thuở xa xưa có một người giàu có đến nổi có cả kho vàng, ông chủ giàu có ấy tên là Thể Công. Thể Công có người đầy tớ tên là Hạnh Ngộ hết mực trung thành tài giỏi hơn người làm đủ trăm công nghìn việc gian khổ nhọc nhằn, nhưng không hề than vãn. Ông Chủ Thể Công có một thói quen là thích nghe giáo lý nên ông thường đến nơi đền chùa để nghe kinh.
- Cho đến một hôm ông chủ Thể Công rước một vị Tôn Sư về giảng pháp, cho tôi tớ cũng như người nhà nghe, vị Tôn sư thuyết giảng rất hay nhất là giảng về sự tu tập đỉnh cao chỉ cần tu pháp bố thí, pháp thí, ở cảnh giới đỉnh cao Thời thành tựu năm pháp đỉnh cao kia một là ít Hành Ác, hai là thường Nhẫn Nhịn, ba là luôn Cố Gắng, bốn là tâm An Định, năm là phát sanh Trí Tuệ. Nói chung là sáu pháp đỉnh cao tu hành. Chỉ cần tu pháp Bố Thí, Pháp Thí thời năm pháp kia cũng thành tựu theo.
- Vị Tôn Sư giảng rằng trong các công hạnh tu hành làm lành bố thí là đứng hàng đầu. Bố thí gì cũng được miễn là những gì mình có đem cho người ta. Như bố thí tiền của, vàng, bạc, châu báu, đồ ăn, thức uống, vật dụng thường ngày, chỉ bày nghề nghiệp, nói chung là những thứ nhu cầu trong cuộc sống. Gieo trồng nhân hạnh bố thí không những để đức lại cho con cháu, còn bản thân không sa đọa vào tam đồ khổ Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh. Tái kiếp sanh ra nơi đâu cũng được giàu có, sống trong nhung lụa giàu sang.
Có người còn giàu hơn cả nhà vua. Một kiếp tu nhân hạnh bố thí muôn kiếp tới sống trong sung sướng giàu sang. Một đồng cho đi thời còn, trăm đồng tiêu xài coi như là mất. Giúp đỡ cho người tăng thêm phúc đức, ăn xài phung phí phước đức giảm hao. Phước đức dù to lớn đến đâu tiêu xài mãi cũng hết. Như người nông dân gặt lúa vào, không chịu gieo ra thời lấy đâu ra lúa mà gặt. Đành phải vay mượn để mà sống, vay thời phải trả, nên nghèo khổ hết kiếp nầy đến kiếp khác. Người tu hành như người trồng lúa gặt sự may mắn phước đức vào, thời phải bố thí làm lành gieo ra, để tiếp tục ở tương lai gặt hái những phúc lành.
- Tôn Sư nói đó là nói về bố thí vật chất, còn pháp thí như in ấn kinh thơ, giảng kinh cho người khác nghe. Nhất là truyền bá Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Ý Cha Trời một câu kinh pháp còn hơn đem cả kho vàng bố thí.
Vì sao lại nói như thế bố thí vật chất là để dưỡng nuôi xác thân, không thể dưỡng nuôi được huệ mạng Linh Hồn. Huệ Mạng Linh Hồn chính là căn thân Huệ Mạng Ý Thức Nhận Thức nói chung là căn thân Huệ Mạng hiểu biết của Linh Hồn. Linh Hồn nhờ nghe kinh giáo dẫn đến sự giác ngộ nhận thức được lời dạy của Cha Trời, căn thân Huệ Mạng trở nên sáng suốt tức là phát Huệ, thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Nên có câu vật chất dưỡng nuôi thể xác, đạo lý dưỡng nuôi Linh Hồn. Linh Hồn mới thật là của mình, còn thể xác không thuộc về mình chỉ là vay mượn tạm thời mà thôi. Dưỡng nuôi thể xác cũng quý, nhưng sao bằng dưỡng nuôi Linh Hồn. Khi mãn kiếp trần dù giàu cho mấy cũng không mang theo được, quyền lực cho mấy khi Linh Hồn rời khỏi thể xác thời mất hết không còn. Chỉ có nghiệp dữ, nghiệp lành, cũng như Văn Kinh lời dạy của Trời là mang theo mà thôi. Thứ Văn Kinh Văn Hóa Cam Lộ quý hiếm hơn châu báu ngọc ngà. Nên mới nói truyền một câu kinh pháp cho đời còn hơn đem cả kho vàng bố thí.
Nói về Hạnh Ngộ từ lâu ra sức làm ăn tích góp không những được nhiều tiền bạc gia đình cũng khấm khá, lại học thuộc được nhiều kinh giáo. Nhất là Văn Kinh Văn Hóa Cội Nguồn thứ kinh văn còn quý hơn ngọc ngà châu báu chỉ cần đem ra bố thí Pháp gieo trồng Thiên Ý thời phước báo không thể nghĩ bàn. Bằng xin nghỉ việc về bàn với vợ, nhà mình không đến đổi nghèo tuy không giàu bằng ông chủ, nhưng lại có cả kho báu Văn Kinh. Nếu biết kinh doanh gieo trồng Thiên Ý bố thí pháp. Không những trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, mà còn làm Vua làm Chúa trên các cõi trời.
Vợ Hạnh Ngộ như không tin nói bố thí pháp làm gì mà trở thành Vua Chúa trên các cõi trời được. Hạnh Ngộ nói bố thí pháp là sự bố thí tu hành cao nhất khai sáng trí huệ tận độ nhân loại về trời. Theo Luật Nhân Quả mình cứu họ độ họ về trời, họ sẽ đến với mình, theo Luật Nhân Duyên họ được siêu sanh về thiên đàng cực lạc. Người nào độ họ lên thiên đàng thời họ theo người ấy. Vì vậy người bố thí pháp nhất định trở thành Vua trời, Chúa trời, cai quản cõi nước trời, vĩnh hằng an vui hạnh phúc.
Vợ Hạnh Ngộ nghe chồng nói thế liền giác ngộ cùng chồng in ấn kinh thơ, truyền bá kinh thơ không biết mệt mỏi, không bao lâu nổi tiếng khắp miền vùng.
- Nói về Ông Chủ Thể Công vì thấm nhuần đạo lý biết rõ trần gian chỉ là cõi tạm bằng đem kho báu lần lượt bố thí giúp đời để kiếp sau được sung sướng ví như người nông dân gặt thu hoạch lúa vào. Muốn có lúa gặt nữa thời gieo trở ra. Ông Chủ Thể Công biết rõ mình gặp nhiều may mắn hơn họ là nhờ kiếp trước gieo trồng cội phúc, nên kiếp nầy mới gặt hái phước đức lớn như vậy giàu có vô cùng vàng bạc đầy kho.
Ông Chủ Thể Công bằng để lại một ít đủ sanh sống thong thả tới già, còn lại bao nhiêu đêm ra bố thí gieo trồng công đức trở lại. Cho đến một hôm Ông Chủ Thể Công lâm bệnh lên cơn sốt thiếp đi hai ba ngày. Ông thấy mình sống trong cung vàng điện ngọc, giàu sang không khác gì Vua, Chúa, người ăn kẻ ở đông đến hàng vạn Ông lấy đó làm thỏa mãn. Một hôm có một vị Thần đến nói sự giàu sang của Ông là nhờ kiếp trước Ông gieo trồng bố thí. Chỉ là sự giàu sang nơi cõi trần giả tạm, những kẻ ăn người ở của Ông là những người mang nợ Ông từ kiếp trước khi họ trả xong thời họ bỏ Ông mà ra đi. Khi Ông mãn kiếp trần thời Ông chẳng còn gì cả Linh Hồn ra đi với hai bàn tay trắng. Tôi có quen biết một người nay đã là Vua cõi trời, dân chúng chư thiên đông vô số đếm không xể, người nào người nấy còn hơn Vua Chúa trần gian.
- Ông Chủ Thể Công nói Thần có thể dẫn tôi đến cõi nước đó được không? Vị Thần gật đầu dẫn Ông Chủ Thể Công bay lên thiên giới. Ông choáng ngợp trước mắt Ông là cõi nước trời đất đai bằng châu báu, Vàng, Bạc, Trân Châu, Kim Cương, Pha Lê, xà cừ, mã não, lâu đài cung điện nguy nga, tráng lệ, kiến trúc cổ kính cầu kỳ, hoa văn tuyệt tác sống động như hình thật, vật liệu xây dựng toàn bằng bảy báu hào quang tỏa sáng trăm sắc nghìn màu, kỳ quan bảo tháp xa gần khắp cùng cao chọc trời xinh đẹp lạ lùng, trần gian không bao giờ có, đường sá cũng toàn bằng châu báu. Cây báu trồng khắp nơi nhất là hai bên đường. Ao sen báu xa gần nhiều vô số đủ loại chim ca hát vui tai. Hoa sen báu to như bánh xe đẹp lạ đẹp lùng, hương thơm ngào ngạt. Cây báu khắp nơi quả vàng, trái bạc, thân lá kim cương, hào quang tỏa sáng lung linh. Ông Chủ Thể Công càng xem càng choáng ngợp cho sự giàu sang ở cõi nước trời. Thiên Chúng người nào người nấy cũng an vui tự tại muốn gì được nấy, con hơn Vua, Chúa ở trần gian. Ông Chủ Thể Công hỏi vị Vua trời ấy là ai? Vị Thần nói vị vua trời ấy không ai khác hơn chính là Hạnh Ngộ xưa kia là đầy tớ của Ông Chủ. Ông Chủ Thể Công nghe vị Thần nói thế vô cùng kinh ngạc Hạnh Ngộ tu hạnh gì mà được như thế. Vị Thần ấy nói Hạnh Ngộ thường in kinh bố thí, lại thường hay giảng kinh cho người khác nghe, nên mới được Phước báo như vậy.
- Ông Chủ Thể Công liền nhớ lại vị Tôn Sư nói, giảng truyền một câu kinh Văn Hóa Cội Nguồn, phước đức lớn hơn bố thí cả kho vàng. Ông chợt hiểu ra truyền bá kinh thơ mới là số một, đứng đầu trong con đường tu hành gieo trồng cội phúc. Ông Chủ Thể Công định hỏi nữa thời vị Thần biến đi đâu mất. Ông giật mình tỉnh giấc thời thấy người nhà đứng xung quanh mình rất đông. Người nhà thấy Ông tỉnh dậy vui mừng khôn xiết nói Ông Chủ ngủ mê ba ngày ba đêm rồi.
- Ông ngồi dậy thấy trong mình khỏe mạnh, không còn bị ốm như mấy ngày trước đây. Ông Chủ Thể Công liền cho người mời Tôn Sư đến. Ông kể lại câu chuyện cho Tôn Sư nghe. Vị Tôn Sư ấy nói đó là cảnh giới tương lai của Ông. Khi Ông qua đời tái sanh kiếp khác thời đúng như những gì Ông đã thấy. Tôn Sư nói bố thí vật chất, không bằng bố thí pháp. Truyền một câu kinh giáo trong Văn Hóa Cội Nguồn, phước đức lớn hơn bố thí cả một kho vàng. Văn Hóa Cội Nguồn là Văn Hóa Thiên Ý Cha Trời. Văn Hóa tối cao vũ trụ. Chỉ cần nghe thoáng qua lỗ tai cũng đặng phước báo vô cùng, huống chi là truyền giảng cho người nghe, thời phước đức hà sa không thể nghĩ bàn. Bố thí Pháp là bố thí Vô Vi, bố thí vật chất là bố thí hữu vi. Bố thí hữu vi vật chất chỉ nuôi thể xác con người. Còn bố thí Vô Vi là truyền bá kinh thơ cho người tận độ Linh Hồn nhân loại. Nên bố thí Vô Vi cao hơn bố thí hữu vi.
Bố thí Vô Vi truyền Kinh Giáo tận độ Linh Hồn nhân loại thường tái kiếp làm Vua, làm Chúa, không làm Vua làm Chúa trên trời cũng làm Vua làm Chúa chốn nhân gian. Những người truyền kinh thơ Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Ý Cha Trời thường là làm Vua làm Chúa trên các tầng trời cõi trời.
Nói tóm lại:
Chỉ cần tu pháp bố thí, pháp thí, ở cảnh giới đỉnh cao Thời thành tựu năm pháp đỉnh cao kia một là ít Hành Ác, hai là thường Nhẫn Nhịn, ba là luôn Cố Gắng, bốn là tâm An Định, năm là phát sanh Trí Tuệ. Nói chung là sáu pháp đỉnh cao tu hành. Chỉ cần tu pháp Bố Thí, Pháp Thí thời năm pháp kia cũng thành tựu theo.
Đã bố thí vật chất lại biết truyền kinh, thơ Văn Hóa Cội Nguồn, thời phước đức không thể nghĩ bàn. Ông Chủ Thể Công liền giác ngộ vừa bố thí Vật Chất hữu vi, vừa Bố Thí Pháp Văn Hóa Cội Nguồn Chân Lý Vô Vi, sau khi mãn kiếp trần trở thành Chuyển Luân Vương cai quản vô số cõi nước trời an vui tự tại.
95. SỰ TRUYỀN NGÔI TRÊN THƯỢNG GIỚI
Ngày xửa ngày xưa, ở trên tầng trời thứ ba Dạ Ma Thiên, có vô lượng cõi nước trời, trong đó có cõi nước Cao Thiên. Chư Thiên rất đông cõi nước giàu sang đất nước toàn bằng bảy báu. Vàng, bạc, kim cương, trân châu, pha lê, hổ phách, xà cừ. Cung vàng điện ngọc khắp chốn, kỳ quan, bảo tháp khắp nơi, đường sá dọc ngang lát toàn châu báu, ao hồ rộng lớn, sen báu tỏa sáng, trên bờ ao sen tàng lọng uy nghi, cõi trời đất báu nơi đâu cũng tỏa hào quang rợp trời rợp đất. Muôn màu muôn sắc xinh đẹp lạ lùng.
- Vua Trời Cao Thiên có đến cả trăm người con, người nào cũng tài cao đức độ thần thông trí tuệ như nhau. Đứa nào cũng muốn làm vua trời có cõi nước riêng, cả trăm người con biết truyền ngôi cho ai. Lại nữa ở trên cõi trời tuổi thọ rất cao sống quá lâu. Vua Trời Cao Thiên vì đáp ứng sự mơ ước làm Vua Trời của các con. Bằng chỉ cách để trở thành Vua Trời.
- Một hôm Vua Trời Cao Thiên kêu hết những người con đến. Cao Thiên nói, Cha còn sống rất lâu lại chỉ có một cõi nước trời. Không thể nhường ngôi cho các con được vì có cả trăm đứa con. Nhưng các con thời muốn có cõi nước trời riêng để cai quản vui chơi tùy ý. Cha có một cách nầy nếu các con làm được các con sẽ trở thành Vua Trời như Cha. Nhiều khi hơn Cha nữa là khác. Một trăm người con nghe Cha nói thế lấy làm mừng nói, chúng con sẽ làm gì để trở thành Vua Trời, xin Cha chỉ dạy cho chúng con.
- Vua Trời Cao Thiên nói muốn làm giàu thời phải lặn hụp nơi biển sâu tìm ngọc. Vào rừng thiêng nước độc để đãi vàng. Muốn làm Vua Trời thời phải tận độ dìu dắt nhân sinh. Xưa Cha cũng từ trên trời sanh xuống chốn nhân gian lặng lội trong bể trần ra sức tận độ nhân loại con người về trời nên Cha mới trở thành Vua Trời. Các con đi theo con đường của Cha đã đi.
Các con muốn trở thành Vua Trời các con phải xuống biển trần, ra sức chống lại gió bát phong, lặng hụp trong cõi vô thường, nơi chốn phàm trần. Nơi phàm trần mỗi Linh Hồn nhân loại con người là mỗi viên ngọc Mâu Ni vô cùng quý hiếm, nhưng không vì thế mà dễ có, phải chịu trăm cay nghìn đắng, mới độ được một người, rồi từ một người nầy sẽ độ Ông Bà Cha Mẹ, nhiều đời nhiều kiếp siêu sanh thiên giới các con đã có một nước trời nhỏ ngỏ, nhưng nếu các con độ được từ năm người trở lên thời các con có cõi nước trời rộng lớn như Cha hiện tại.
Nói thời dễ nhưng đi vào tận độ người trần gian thời rất khó, phải nói là cực kỳ khó không mấy ai làm nổi. Vì chốn trần gian là nơi bể khổ, gió bát phong không ngừng thổi, phải nói là thi nhau thổi.
Gió Bát Phong như con dao hai lưỡi con người nhờ con dao mà làm nên bao đại sự. Nhưng cũng chính con dao ấy làm hại con người.
Gió Bát Phong là gì; Lợi, Suy, Chê, Khen, Ca Tụng, Phỉ Bán, Khổ, Lạc. Ở trên các cõi trời gió bát phong luôn đem lại những gì tốt đẹp cho cuộc sống. Ví Dụ như những gì có Lợi đem lại hữu ích cho con người thời làm không có lợi thời thôi không làm thiệt hại đến ai, làm lợi cho cuộc sống, như vậy chữ Lợi sử dụng đúng mục đích thời đem lại hiệu quả rất cao. Còn nơi trần gian cũng một chữ Lợi mà thi nhau làm hại con người, làm hại cuộc sống. Trăm mưu nghìn kế để có được chữ lợi. Không chừa một thủ đoạn nào gieo ra trăm nghìn tai họa bám lấy không tha. Tai ương chuyển xoay thi nhau ập tới. Đôi khi phải trả giá bằng sanh mạng của mình. Chữ Lợi chính là con dao hai lưỡi sử dụng đúng mục đích thời Lợi, sử dụng sai mục đích chữ Lợi trở thành chữ Hại.
Ở trên các cõi trời sự Suy Vong, là chuyện bình thường luôn đánh thức chư thiên hiểu biết về Suy Vong, nếu không giữ được sự chân thiện của mình sanh tâm hành ác thời nhất định sa đọa xuống chốn nhân gian. Nhờ hiểu rõ sự Suy Vong chính là hành ác làm giảm phước đức nên chư thiên ít khi sa vào con đường ác. Còn nơi trần gian sự Suy Vong là tiêu tan cơ nghiệp thậm chí đi đến diệt vong. Nổi lo sợ Suy Vong luôn ám ảnh mãi con người. nên ráng mà cố giữ dẫn đến làm bao nhiêu điều ác, hầu cứu vãn sự Suy Vong. Nói chung nghĩ đến chữ Suy dù là suy vong hay suy nhược đều lo sợ. Như vậy cũng một chữ Suy làm cho chư thiên thức tỉnh luôn biết giữ mình không sa vào con đường tổn đức tổn phước. Nơi trần gian cũng vì một chữ Suy mà gây ra không biết bao nhiêu tội lỗi hầu tránh né chúng, nhưng nào có được.
Ở trên các cõi trời cũng có sự Chê Bai nhưng chê bai những người hành động trái ngược lại đạo đức vì có sự Chê Bai như vậy nên chư thiên luôn hướng thiện sống theo đạo đức. Còn nơi trần gian sự chê bai nhiều khi không đúng chỗ ví dụ như người ta tôn thờ Tổ Tiên Ông Bà mà cũng chê bai. Sống vì người không vì mình cũng không ít người cho là ngu chê bai chỉ trích. Nếu người không minh mẫn sáng suốt bị người ta chê bai đi đến bỏ Tổ Tiên Ông Bà cũng như chỉ biết mình không cần biết đến ai nữa. Như vậy sự chê bai như con dao hai lưỡi, nhờ sự Chê Bai mà trở nên con người tốt, như các chư thiên ở trên trời. Còn nơi trần gian Sự Chê Bai không đúng cách, thờ Ông Bà Tổ Tiên mà cũng chê bai. Sống vì nhân loại mà cũng cho là ngu. Ca ngợi anh linh truyền thống mà cho là dại, sự Chê Bai ấy không có giá trị về mặt Chê Bai, Chê Bai không đúng cách thế mà khối người nghe theo.
Ở trên các cõi trời cũng có sự Khen Ngợi. Những người có công làm cho chư thiên an vui. Cõi trời hưng thịnh, Tu hành đạt đến đỉnh cao. Khen Ngợi là sự động viên khích lệ vươn cao hơn nữa.
Còn nơi trần gian Anh Em chém giết nhau mà cũng Khen Ngợi là tài giỏi, làm cho nhân loại con người khốn khổ mà cũng Khen là tài hay. Sự Khen Ngợi nầy động viên nhân loại con người lao vào hành ác hơn nữa. Như vậy cũng một chữ Khen, Khen để cho tốt đời đẹp đạo như trên các cõi trời. Khen động viên đi vào hành ác hơn nữa, Khen cũng chính là con dao hai lưỡi, Khen đi đến cực lạc, Khen đi đến cực khổ.
Ở trên các cõi trời cũng có sự Ca Ngợi Tán Tụng ca ngợi bề trên, tán tụng công đức những vị Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa đóng góp nhiều công sức cho Thiên Đàng Cực Lạc.
Còn nơi trần gian Ca Ngợi Tán Tụng những tên trùm gian manh lập bè lập phái để mà tranh bá tranh hùng dẫn đến máu đổ đầu rơi.
Trên các cõi trời cũng có sự Hủy Báng phỉ báng nếu làm hại người khác, vì sợ sự Hủy Bán, Phỉ Báng chỉ trích nên chư Thiên luôn sống hòa thuận trong tình thương yêu. Vì không ai muốn trở thành đối tượng để cho chư thiên Phỉ Báng, Hủy Báng.
Còn nơi trần gian sự Hủy Báng Phỉ Báng là đối lập nhau không cùng chí hướng, không cùng quan điểm. Dẫn đến xung đột lẫn nhau chiến tranh vì đó xảy ra.
Trên các cõi trời cũng có khổ là luôn giữ cho Tâm Thiện Lành, phước đức an trụ lâu dài, cũng như người trần gian phải làm thời mới có ăn. Không làm thời đói nhăn răng chịu nghèo. Nói đến khổ Thiên Đàng Trần Gian đều có, nhưng khổ thiên đàng là mọi người cùng nhau đem lại sự cực lạc.
Còn khổ trần gian là Bể Khổ nghịch cảnh, éo le, buồn khổ, khổ chồng lên khổ, họa chồng lên họa, nên nói đến Khổ là ai nấy cũng sợ hãi. Không như trên các cõi Thiên Đàng càng gian khổ thời càng đi đến Cực Lạc.
Nói đến Vui Sướng thời trần gian thiên đàng đều có Vui Sướng trên thiên đàng là vui sướng trong cảnh giới Cực Lạc. Đồng vui đồng hưởng lạc.
Còn vui sướng nơi trần gian, cái vui đem đến cho mình là để lại bao cái khổ cho người khác. Sự giàu có của Quan trên bao nỗi khổ của người dân.
Nói tóm lại: Bát Phong 1, Lợi. 2, Suy. 3, Chê. 4, Khen. 5, Phỉ Bán. 6, Táng Tụng. 7, Khổ. 8, Vui. Như một Định Luật Tự Nhiên. Trên các cõi trời nhờ Bát Phong đưa xã hội Thiên Đàng đến cảnh giới Cực Lạc. Còn nơi trần gian cũng chỉ là Bát Phong làm cho Tâm đi vào sa đọa. Nên nói người nào nơi trần gian Bát Phong thổi đến Tâm không động ấy là cao nhân trí huệ như hải. Liền ra khỏi thế tục đi vào cảnh giới tự tại.
Vua Trời Cao Thiên nói các con trên cõi trời nhờ Bát Phong nên các con không sa đọa vào con đường Bất Thiện luôn sống trong Chân Thiện. Lại muốn gì được nấy, vui chơi thỏa mái chưa có một lần sống trong nghịch cảnh. Nhưng khi xuống trần gặp không biết bao nhiêu là nghịch cảnh, buộc các con sanh ra nhiều mánh khóe, mưu mô xảo quyệt, dối trá, nếu không làm thế thời các con thua thiệt đủ mọi điều. Càng phấn đấu vì cuộc sống các con liền bị cuốn hút vào sanh tử, tử sanh. Bị Bát Phong xoay chuyển hết mong trở lại thiên giới. Độ người chưa được thời mình cũng mang đọa luôn. Ví như người lặng xuống biển sâu tìm ngọc, ngọc chưa mò được thời bị chết chìm trong lòng đại dương.
Trăm người con nghe thế lấy làm kinh hãi, im hơi lặng tiếng. Vì biết xuống biển trần, lặn hụp trong cõi Vô Thường, nghịch cảnh đối đầu, trăm cái khổ nghìn cái sầu, họa tai thi nhau kéo đến. Chưa kể yêu ma quấy phá, làm gì đủ trí chống chọi nghịch cảnh, đối đầu trăm cái khổ, vượt qua nghìn cái sầu, chịu đựng đầy rẫy bệnh tật, sống trong cảnh giới bạo lực bao trùm, chưa kể bát phong xoay chuyển. Vì sự Khen, Chê, Thành, Bại, Hơn, Thua, đành phải đương đầu sa chân vào ác đạo, sa đọa vào luân hồi, hết mong trở lại thiên giới, nên không muốn làm làm Vua nước trời nữa vì quá khó khăn.
- Vua Trời Cao Thiên nhìn thấy còn ba người con là quyết muốn trở thành Vua Trời bằng nói nếu các con quyết chí trở thành Vua Trời thời các con phải chịu lặng hụp xuống biển trần, nơi có nhiều ngọc Mâu Ni. Tức là Linh Hồn con người, những Linh Hồn vô chủ. Các con độ được những Linh Hồn vô chủ ấy các con sẽ có cõi nước trời. Độ được nhiều nhân thế thời thiên chúng càng đông. Có nhiều cõi nước Phật, nước Thánh, thiên chúng chư thiên đông vô số vô biên, không phải tự nhiên mà được như vậy. Mà phải phát đại nguyện cứu khổ nhân loại không vì mục đích nào khác nữa, cũng như nguyện cầu Cha Trời, Mẹ Trời phù hộ che chở cho.
- Ba người con nghe Cha giảng giải liền giác ngộ nói chúng con nguyện đầu thai xuống biển trần lặn hụp trong vô thường tìm những viên ngọc Mâu Ni vô chủ ra sức cứu khổ cũng như truyền bá Văn Hóa Cội Nguồn thành lập quốc độ trên thiên giới.
Cao Thiên nói nếu ba con quyết như vậy, thời hãy cầu nguyện lên Cha Trời, Mẹ Trời phù hộ che chở cho các con. Nếu độ được Linh Hồn nhân loại thời càng tốt, bằng không độ được cũng trở về cõi trời. Nơi biển trần chính là biển khổ chốn nhân gian ngoài cảnh giới Vô Thường xoay chuyển, còn phải chịu cảnh giới bát phong vùi dập. Nếu không đủ sức Nhẫn, Nhịn, Nhục thời coi như bị bát phong xoay chuyển vào con đường Ác Đạo. không mong gì trở lại thiên đàng. Hãy trừ khử thập tam ma khi chúng xâm nhập vào tâm.
- Thập tam Ma là: Yêu, Ghét, Giận, Hờn, Sân, Si, Hỉ, Nộ, Ái Ố, Lợi, Suy, Khen, Chê. Mở rộng lòng từ bi, lòng chẳng nhiễm trần, đi ngược lại dòng đời các con mới thành chánh quả. Có nghĩa là độ được người giữ được mình không bị Yêu, Ghét, Giận, Hờn, Sân, Si, Hỉ, Nộ, Ái Ố, Lợi, Suy, Khen, Chê. Tâm như hoa sen gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Ở vào giai đoạn gần cuối thời mạc pháp có Đức Chí Tôn lâm phàm xuống thế chuyển đại pháp luân, nói ra Kinh, Thơ, Thiên Ý Cha Trời. Đây là điều hi hữu hàng triệu năm mới có một lần, các con ra phò Thiên Ý, dùng Thiên Ý mà tận độ nhân loài về trời.
- Ba người con trở về Thiên Cung nơi ở của mình. Người con thứ nhất tên là Thiên Quân nguyện rằng nguyện cầu Cha Trời, Mẹ Trời ban cho con nhiều quyền lực để con độ nhân loại về trời.
Người con thứ hai tên là Thiên Đế nguyện rằng, Nguyện cầu Cha Trời Mẹ Trời ban cho con sự giàu sang muốn chi được nấy, để con giúp cho đời, thoát khỏi sự đói nghèo, để họ có điều kiện tu luyện về trời.
Người con thứ ba tên là Thiên Vương phát nguyện rằng. Nguyện cầu Cha Mẹ Trời ban cho con Trí Huệ thấy rõ Tà, Chánh, Siêu, Đọa, cũng như thâm nhập Thiên Ý để con độ nhân loại về trời.
Ba người con Cao Thiên xuất hồn rời khỏi kim thân thể xác bay xuống trần gian đầu thai làm người phàm tục.
Đầu thai vào gia đình Họ Cao. Ông Bà Họ Cao đặt tên cho con đúng cái tên ở trên trời do Thần Linh mách bảo. Thằng lớn tên là Quân, thằng kế tên là Đế, thằng út tên là Vương. Ông Bà Họ Cao ăn ở thiện lành chỉ là gia đình nông dân nghèo khổ. Vì đầu thai mang xác trần nên Cao Thiên Quân, Cao Thiên Đế, Cao Thiên Vương quên hết kiếp trước của mình là con của Vua Trời. Chỉ biết mình sanh ra và lớn lên trong gia đình Họ Cao nghèo khổ hoàn cảnh thiếu thốn, còn nhỏ thời mò cua bắt ốc, khi lớn lên để có cái ăn cái mặc ra sức làm lụng suốt ngày, nhưng được cái là thông minh học đâu nhớ đó, người nông dân Họ Cao thấy con cái đứa nào đứa nấy thông minh khác thường bằng bán đi đất đai nuôi con ăn học.
Có lẽ do nguyện lực cầu nguyện trước khi đầu thai lâm phàm xuống thế. Thiên Quân nguyện cầu Cha Trời, Mẹ Trời ban cho nhiều quyền lực Thiên Quân thi đậu làm quan, càng về sau càng thăng chức làm đến bực Thừa Tướng quyền lực chỉ dưới một người. Thiên Quân ra sức vì dân vì nước làm cho dân giàu nước mạnh danh tiếng vang lừng. Khi mãn kiếp trần liền Hiển Thánh trở về trời nhập vào kim thân hóa thành kim cương hào quang rực rỡ, chư thiên nhìn thấy ai nấy cũng đều chấp tay cung kính ca ngợi không hết lời. Cao Thiên hiện đến khen rằng nơi chốn trần gian con hết lòng vì dân vì nước nên mới đặng phước báo như thế giờ đây con trở thành Đại Thiên Vương thống lãnh chư thiên an vui tự tại.
Nói về Thiên Đế thông minh không thua gì Thiên Quân thi đâu đổ đó. Vì do nguyện lực cầu Cha Mẹ trời ban cho sự sang giàu Thiên Đế nhờ học hành đỗ đạt cao, ưng con nhà đại gia tỉ phú trở thành nhà kinh doanh làm ăn tiền vô như nước giàu có muốn chi được nấy. Thiên Đế trích ra một phần lợi nhuận, làm từ thiện giúp cho những gia đình nghèo khó vượt qua khó khăn chỉ có thế, không độ được người nào. Đến khi mãn kiếp trần Linh Hồn trở về trời, Kim Thân vẫn y nguyên nhưng hào quang rực rỡ hơn trước ai nhìn thấy cũng khen, so với Thiên Quân Không bằng nhưng hơn những anh em khác. Vì Thiên Đế xuống trần đi vào con đường hưởng phúc, sự tiến hóa Linh Hồn qua sự tu luyện không được là bao.
Nói về Thiên Vương không khác gì Thiên Quân. Thiên Đế học giỏi không ai bằng thi đâu đậu đó nhưng không làm quan làm thường dân sớm giác ngộ đi theo con đường đạo đức thấy rõ Tà Chánh, Phước, Họa, Siêu, Đọa, biết rõ trần gian chỉ là nơi giả tạm, ngày đêm tu học Văn Hóa Cội Nguồn, thuyết giáo truyền kinh tận độ nhân loại con người danh vang bốn bể thiên hạ theo về trùng trùng. Khi mãn kiếp trần trở về trời nhập vào kim thân, tức thời hào quang sáng chóa muôn sắc nghìn màu hiện ra vô số cung vàng điện ngọc, kỳ quan bảo tháp.
Thiên Vương bay về phương đông tần trời thứ ba thành lập cõi nước trời Thiên Vương không thua kém gì cõi nước Cao Thiên không nói là rực rỡ hơn. Vua Trời Cao Thiên đến chúc mừng Thiên Vương, con đã thành Vua Trời tất cả là do con tự tạo lấy. Không ai có thể tranh giành với con được. Chỉ cần một kiếp xuống trần mà con đã làm nên kỳ tích không ai làm được. Cái giá mà con phải trả cho sự thành công nầy, phải nói là không thể nghĩ bàn. Cao Thiên chúc mừng xong thời trở về cõi nước của mình.
96. CÂU CHUYỆN ĐẠI BÀNG
Ngày xửa ngày xưa vào thời hồng hoang ở vào kiếp tăng, khi tuổi thọ loài người trung bình 100 tuổi thọ 120 tuổi, yểu thọ thọ 80 tuổi. Khi ấy loài Đại Bàng tuổi thọ rất cao còn hơn tuổi thọ con người lại mau lớn trở thành chúa tể bầu trời làm chủ trên không, thậm chí còn xơi cả loài Cầm, Thú, Bò Sát, dưới đất. Loài nào nhìn thấy Đại Bàng cũng phải khiếp sợ.
Còn ở dưới đất loài rắn bò sát độc hại vô cùng tuổi thọ rất cao lại vô cùng mau lớn, loài vật nào cũng bị loài rắn nuốt vào bụng.
Ở vào thời Hồng Hoang tiền sử những con vật to lớn chính là nhất Điểu, nhì Xà, tam Ngư, tứ Tượng. Đại Bàng thời nay tuy nhỏ bé thế mà vô cùng lợi hại, huống chi là to lớn. Loài Rắn cũng thế chúng độc ác vô cùng ăn thịt cả đồng loại.
Muôn loài động vật bị hai loài nầy ăn thịt tàn sát hầu như muốn tuyệt chủng bằng kiện thấu lên trời làm sao hạn chế sự hung hiểm hai loài nầy, huyền cơ Thiên Ý liền chuyển xoay làm cho lớp vỏ xơ cứng, hạn chế sự mau lớn, cũng như rút ngắn tuổi thọ, từ đó Đại Bàng, cũng như loài Rắn lâu lớn tuổi thọ lại ngắn muôn loài cầm, thú, bò sát mới được tồn tại sống yên.
Cho đến một hôm, loài Rắn vô tình nghe được câu chuyện loài Phụng Hoàng nói chuyện với nhau. Loài Rắn muốn sống lâu thời phải thay bỏ lớp da bên ngoài nhiều khi một năm phải thay hai ba lần ít nhất là một lần loài Rắn mới khỏi bị đau đớn lại được sống lâu. Nên về sau có câu Rắn già Rắn thay vỏ, người già người bỏ hòm săng. Rắn lột vỏ bỏ da nào chết sống nhăn, nhưng phải kín đáo thời mới tránh họa tai. Loài Rắn nghe xong vô cùng mừng rỡ tìm nơi kín đáo lột da sống đời, nhưng vì phạm Thiên Ý nên Trời thâu bớt nọc độc của loài Rắn không còn cực độc như trước kia. Còn loài Rắn nào không thay vỏ thời vô cùng lâu lớn còn giữ nguyên cực độc cắn trúng là hết thuốc chữa. Loài Rắn nhờ thay vỏ sống thỏa mái không sợ già chết sống ung dung tự tại.
– Loài Đại Bàng phát hiện loài Rắn có những thay đổi bỗng nhiên sống lâu không như trước đây lăn lộn đau đớn rồi chết, liền tìm kiếm loài Phụng Hoàng để hỏi. Loài Rắn làm gì để được sống lâu như vậy?
– Loài Phụng Hoàng nói Ta làm sao biết được, bí mật Tạo Hóa chỉ cần hở môi thời coi như phạm Luật Thiên. Chi bằng ngươi tìm đến Đức Chí Tôn mà hỏi. May ra Chí Tôn nói cho ngươi biết.
Đại Bàng nghe Phụng Hoàng nói thế liên bay lên trung thiên giới tìm gặp Đức Chí Tôn, nhưng vũ trụ bao la biết tìm gặp Đức Chí Tôn ở đâu. Đại Bàng đang lo lắng thời Đức Chí Tôn hiện ra hỏi Đại Bàng tìm gặp ta để làm gì?
Đại Bàng mừng quá lễ lạy rồi thưa hỏi. Bạch Đức Chí Tôn loài Rắn làm gì để được sống lâu như vậy, còn Đại Bàng tôi bị lớp vỏ xơ cứng bó chặt không những lâu lớn mà còn lên cơn đau rồi chết, tuổi thọ chưa bằng phân nửa ngày xưa.
Chí Tôn nói huyền cơ Thiên Ý đã hạn chế sức lớn cũng như tuổi thọ của loài Đại Bàng ngươi. Nếu không hạn chế như thế thời loài Đại Bàng ngươi không những mau lớn, tuổi thọ rất cao, lại sanh sản thần tốc mỗi lứa vài chục con. Muôn loài cầm, thú, bò sát, thậm chí cả con người sẽ bị loài Đại Bàng ngươi ăn thịt hết dẫn đến tuyệt chủng.
Đại Bàng nghe Chí Tôn nói thế thời theo năn nỉ mãi, nói loài Rắn tuổi thọ trước đây rất ngắn không hiểu vì sao lại trở nên sống lâu như vậy. Loài Rắn phải nói là vô cùng độc hại lại sanh sản mỗi lứa cũng nhiều nào có hạn chế chi đâu Đại Bàng tôi không những tuổi thọ ngắn lại đẻ mỗi lứa chỉ có hai con cùng lắm là ba con, sự công bằng của Trời ở đâu đối với loài Đại Bàng tôi như vậy. Không như loài Rắn kia.
Chí Tôn cười nói. Loài Đại Bàng ngươi tinh khôn hơn loài Rắn nhiều không bao giờ ăn thịt đồng loại, còn loài Rắn thời ăn thịt đồng loại, chúng tự ăn nuốt lẫn nhau nếu đẻ ít thời loài Rắn không còn tồn tại nữa.
Loài Đại Bàng nhà ngươi đã làm chúa tể bầu trời đương nhiên phải có cái giá để mà trả. Nhất là hạn chế sinh đẻ, một lứa chỉ đẻ một hoặc hai con mà thôi, không còn đẻ như gà như vịt, một năm hai ba lứa. Sự ước muốn nào cũng phải có cái giá phải trả. Đại Bàng nói miễn là sống lâu không cần to lớn cũng được dù cho trả giá thế nào loài Đại Bàng cũng bằng lòng hết thảy.
Chí Tôn nói để được sống lâu thời loài Đại Bàng ngươi giống như loài Rắn kia lột bỏ lớp vỏ xơ cứng bên ngoài đi vào trường thọ lâu hơn. Đại Bàng ngươi cũng vậy phải tự mình lột bỏ lớp vỏ xơ cứng bên ngoài như thay lông, lột bỏ móng vuốt, lột bỏ cái mỏ cong sắc nhọn xơ cứng của ngươi, trước khi làm việc đó loài Đại Bàng ngươi phải tìm một nơi kín đáo, nếu đụng chỗ nào cũng thay lớp vỏ không kín đáo sẽ bị các loài khác ăn thịt, nói xong Đức Chí Tôn liền ngâm bài kệ rằng;
Rắn sống lâu, vì Rắn biết thay vỏ
Đại Bàng muốn sống lâu, thời lột bỏ lớp vỏ xơ cứng của mình.
Rắn nghe Phụng Hoàng tâm tình.
Trước khi lột vỏ chịu nhiều sự đau
Ẩn mình trốn kỷ mới xong
Nếu không như thế hết mong sống còn.
Đức Chí Tôn ngâm kệ xong liền biến mất, Đại Bàng bay trở về trần gian rình xem loài Rắn lột da. Loài Rắn phát hiện chửi cha Đại Bàng. Đại Bàng tức giận vô cùng, hể mà gặp Rắn tức thời nuốt xơi. Đại Bàng từ đó trước khi thay lớp vỏ xơ cứng bên ngoài liền tìm nơi ẩn mình, tự mình lột bỏ lớp vỏ xơ cứng đau đớn vô cùng, mọc ra lớp vỏ non trẻ tiếp tục sống, cũng từ đó Đại Bàng đẻ rất ít chỉ một hoặc hai con, quyền lực của loài Đại Bàng mất đi phân nửa, không còn lợi hại như trước kia.
– Khi Đại Bàng lột vỏ xơ cứng bỏ đi, tiếp tục tồn tại, thời loài ve đang sống bám trên cành cây nhìn thấy Đại Bàng chịu đói chịu khác để cho thân hình ốm bớt, rồi lột bỏ lớp vỏ xơ cứng bên ngoài, đi vào cuộc đời mới.
– Loài Ve cũng bắt chước nhịn đói, nhịn khác thịt xương chuyển hóa teo nhỏ, liền thoát ra khỏi lớp vỏ xơ cứng. Ve sầu lột xác sống lâu.
*- Rắn độc thay da, Đại Bàng lột vỏ, Ve Sầu lột xác. Đây là bài học cho các Thể Chế xơ cứng. Chế Độ lỗi thời, muốn tồn tại, phải Thay Da, Lột Vỏ, Lột Xác đi vào tồn tại.
97. SỰ TÍCH QUẢ DƯA HẤU
Ngày xửa ngày xưa đời thứ 18 Hạ Hùng Vương, cũng là đời cuối cùng của niên đại Hùng Vương. Niên Đại Hùng Vương kéo dài 2701 năm, kết thúc Niên Đại Hùng Vương 258 trước công nguyên.
Ở vào thời Hùng Duệ Vương đời cuối của Niên Đại Hùng Vương, là thời kỳ loạn lạc, bắc Văn Lang, Trung Văn Lang đã mất. Trung Văn Lang thời bị dòng họ Triệu chiếm giữ, còn Bắc Văn Lang thành bãi chiến trường của nhiều nước phương Bắc tranh giành với nhau. Chỉ còn lại Nam Văn Lang.
Khi ấy ở phía Nam Văn Lang. Dân Tộc Chăm có vị tướng tên là Mai Yển thống lãnh ba quân tướng sĩ cánh Nam. Quân Hồ Nam nổi dậy giết chết Mai Yển tổng binh tướng quân con của Mai Yển là Mai An Tim trốn thoát. Hùng Duệ Vương đem quân dẹp loạn sau khi dẹp xong quân nội loạn Hồ Chăm. Vua Hùng liền nghĩ đến công lao của Mai Yển tướng Quân. Bằng kêu Mai An Tim đến hỏi, Vua Hùng hỏi tới đâu Mai An Tim đáp trôi chảy đến đó, nói tiếng Việt Kinh rất thông thạo, học cao hiểu rộng, lắm tài nghệ. Vua Hùng cảm mến bằng nhận Mai An Tim làm con nuôi. Trước là đền ơn đáp nghĩa công lao trấn giữ cánh Nam. Hết lòng vì dân vì nước cống hiến đời mình cho triều đình. Hai là thấy Mai An Tim thông minh hơn người. Ba là Vua Hùng không còn con trai vừa mới mất.
- Mai An Tim tướng người khôi ngô tuấn tú lại chịu khó không việc gì không làm. Vua Hùng thường để bên mình làm hầu cận, và tin dùng những việc trọng đại.
- Khi ấy ở triều đình có vị quan Bộ Thư, sinh được một tiểu thư Nàng Ba xinh đẹp nổi tiếng nết na. Hùng Duệ Vương bằng cưới cho Mai An Tim. Vua cho xây một ngôi nhà riêng ở gần cung vua. Hai vợ chồng Mai An Tim sống vô cùng hạnh phúc sinh được người con trai lên năm tuổi. Điều nầy làm cho Mai An Tim phấn khởi dốc tâm hết lòng vì triều đình.
Mai An Tim được Vua Hùng yêu mến, năm ba mươi tuổi Vua Hùng sắc phong cho cấp quan Lạc Hầu, các quan trong triều ai nấy cũng phải kiên sợ. Món ngon vật lạ không thiếu thứ gì, ở những người may mắn hơn mình thường sanh đố kỵ, ganh ghét. Các quan trong triều phần lớn không ưa Mai An Tim. Chờ cơ hội là ám hại Mai An Tim, Mai An Tim tánh tình ngay thẳng nên không để ý đến xung quanh, không quan tâm đến những kẻ có ý hại mình.
Mấy lần Nhạc Phụ cha vợ nói với Mai An Tim con hãy dè chừng cẩn thận lời ăn tiếng nói, không khéo mang họa vào thân, vì có nhiều người ganh ghét với con. Có cơ hội là chúng hãm hại. Nàng Ba cũng khuyên chồng đề phòng cẩn thận. Mai An Tim không nghe vì ỷ lại cho mình có công, hơn nữa Vua Hùng rất yêu mến chẳng có chuyện gì xảy ra đâu mà lo.
- Một hôm trong một bữa tiệc Mai An Tim đãi các quan khách, các quan tăng bốc không ngớt lời ca ngợi Mai An Tim. Mai An Tim nhúng nhường nói
- Mọi Vật trên đời đều do Trời định đoạt, nghe đâu Quốc Tổ đã từng truyền dạy như vậy. Mọi thứ tôi có đều do số phận Trời ban cho. Cha Tôi làm tướng quân hết lòng vì nước, nên để lại Phước Đức cho tôi. Nên ngày nay Tôi mới được như vậy.
- Trong số người đến dự tiệc, đâu phải ai cũng tốt, vốn ghét Mai An Tim từ lâu. Chấp lấy câu nói cho là Mai An Tim ngạo mạn không coi Hùng Duệ Vương ra gì. Bằng vội vàng kéo nhau về cung tâu lên cho Vua biết, thêm mắm thêm muối, nâng quan điểm, chuyện ít làm ra cho lớn, đưa cái tội khi quân lên cao.
Hùng Duệ Vương nghe các quan nịnh thần tâu như thế vô cùng tức giận quát ầm lên. Chà cái thằng bố láo, nó không biết ơn Ta, mà lại cho mình tài giỏi làm nên tất cả, uổng công Trẫm thương yêu đùm bọc, trả ơn cho Trẩm bằng sự phản bội coi Trẫm chẳng ra gì, đúng là đồ Bất Nhân, Bất Nghĩa, ăn cháo đá bát, tội nầy không thể tha. Lũ quan nịnh thần vốn là loài Rắn độc đầu thai. Đã từng bị loài Đại Bàng xơi nuốt. Chơn Linh Mai An Tim chính là Chơn Linh Đại Bàng. Các quan nịnh thần chính là Chơn Linh Loài Rắn Độc đầu thai. Thấy Vua Hùng nổi giận bằng châm lửa thêm với chức quan chưa lớn, Mai An Tim muốn làm phản, tuôn ra những lời vô ơn bạc nghĩa, Vua Hùng bị các quan nịnh thần đổ dầu vào lửa thét lớn giam cổ nó lại cho Ta.
- Thế là buổi chiều hôm ấy Mai An Tim bị bắt tống giam vào ngục chờ ngày hành xử.
- Đến lúc nầy Mai An Tim mới biết chốn quan trường không như mình nghĩ, chỉ cần sơ sót là toi mạng. Những lời trung trực thường bị hiểu lầm trung ngôn nghịch nhĩ, lời nói ngay thẳng không đúng chỗ gây ra hậu quả nghiêm trọng. Nhất là những nịnh thần có cơ hội là chúng chẳng tha. Bịa chuyện thêu dệt, đâm thọc không nói lên sự thật, mà lái theo chiều hướng khác, hầu nhổ cái gai trong mắt của họ. Khi biết ra thời đã muộn.
Mai An Tim nghĩ nếu Ta sớm nghe lời Nhạc Phụ, cùng Nàng Ba vợ của Ta thời đâu ra nông nỗi nầy. Hồng Phúc đến mà không lo che dấu, phơi bày khoe khoang thời họa ập tới thình lình. Ôi cũng là số kiếp cho cái ngu của Ta.
- Mấy ngày hôm sau trong buổi chầu các quan hợp bàn để xử án Mai An Tim. Bên nịnh thần đề nghị xử tử làm gương cho kẻ khác. Bên Trung Thần nói Mai An Tim là con của đại tướng quân Mai Yển có công lớn trấn giữ phương nam hết lòng phò vua giúp nước, chết trong Trung Nghĩa ít ai được như vậy, hãy tha tội chết đày làm thường dân mà thôi.
- Khi ấy có một vị quan già đến trước bệ rồng quỳ xuống tâu rằng. Nếu đúng như lời Mai An Tim nói tất cả sự may mắn của Mai An Tim là do Ý Trời, những gì Mai An Tim có là do Hồng Phúc phước đức của Cha Mẹ. Để chứng minh lời nói ấy là sự thật, thời Mai An Tim sẽ thoát kiếp nạn. Bằng như Mai An Tim ngạo mạn xem thường Bệ Hạ, thời Mai An Tim sẽ chết vì cái tội Bất Trung, Bất Nhân, Bất Nghĩa.
- Thần nghe nói ngoài cửa Nga Sơn có một hòn đảo nhỏ không ai có thể sống trên đó được, cho Mai An Tim ra đấy ở với ba tháng ăn, để Mai An Tim tạm sống trong ba tháng. Nếu trời không giúp, cũng như hồng phúc Cha Mẹ không có thời nhất định Mai An Tim sẽ chết tại nơi đây.
- Vua Hùng nghe xong gật đầu chấp thuận cứ theo kế sách đó mà làm, bằng giao Mai An Tim cho vị quan già thi hành đày Mai An Tim ra hòn đảo Nga Sơn.
- Hôm Mai An Tim bị quan binh đưa đi đày, vợ Mai An Tim là Nàng Ba đòi đi theo chồng, không biết bao người khuyên can, hãy ở lại nuôi con không nên đi theo Mai An Tim sau có người hương khói thờ phụng. Nàng Ba nhất quyết không ở lại chết sống cũng theo chồng bằng bế đứa con trai năm tuổi theo Mai An Tim. Nhiều người cho Nàng Ba thiếu suy nghĩ làm việc dại dột. Trong khi đó có một người thở dài khen, đúng là tiết nghĩa đầy mình thủy chung hiếm có dễ gì tìm đâu ra một người như thế.
- Có người hỏi Nàng Ba không sợ chết đói sao? Nàng Ba trả lời (Trời sanh voi thời Trời sanh cỏ lo gì ) Trời ở trên đầu chúng Ta nào ở đâu xa.
- Khi đến hoang đảo bước chân lên bãi hoang vu mịt mù, không một bóng người, sóng vỗ đì đùng xa xa nghe tiếng chim kêu vượn hú. Nàng Ba không ngăn nỗi giọt lệ cảm giác tủi thân nức nở khóc gục vào vai chồng, mồ chôn của vợ chồng Ta chính là nơi đây.
Sau có thơ rằng
Một mình sống chốn hoang vu
Chỉ nghe sóng vỗ cát bay rì rào
Nơi đây không có bóng người
Rừng cây vách lá lấy gì để ăn
Chết là cái chắc khó khăn
Chỉ mong phép lạ bằng không lìa đời
Mai An Tim ôm vợ an ủi rằng, nếu Trời không linh Quốc Tổ thờ mà chi. Trời luôn có mắt khắp nơi, cứ phấn chấn lên đừng lo.
- Hơn một tháng đầu đời sống Mai An Tim tạm ổn. Nhà ở thời chui trong hốc đá, đã được đan phên che gió che sương, nước uống thời đã có suối, đói thời hái lượm trái cây, ăn nấm ăn rau cỏ, cọng với lương thực trong ba tháng tạm sống qua ngày.
- Mai An Tim lấy nước biển đổ vào các trủng đá phơi nắng lấy múi để ăn, bắt cá trên suối, hái rong gành đá trên biển nấu ăn kéo dài sự sống, gần sáu tháng trôi qua tuy đầy khó khăn nhưng vẫn sống. An Tim nói với vợ nếu chúng ta tìm ra hạt giống ngô, khoai thời không lo ngại gì nữa, nhưng đằng nầy anh chưa tìm ra được hạt giống. Ngày mai anh sẽ đi tìm khắp hoang đảo mong có giống khoai củ nào đem về nhân giống trồng nhiều ra, nuôi sống gia đình Ta.
Sau có thơ rằng
- Trí thông minh, dù ở đâu cũng tìm ra sự sống
- Chịu gian nan, dù sỏi đá cũng thành cơm
- Vài hạt giống cũng làm nên nghiệp lớn
- Biển cho Ta nào muối, nào cá tôm
- Trời sanh voi, thời Trời cũng sanh ra cỏ
- Chỉ sợ rằng, không có đủ trí khôn
- Hãy vững tin, một ngày mai tươi sáng
- Đêm tan dần, thời lộ ánh bình minh
Mai An Tim tìm kiếm khắp trên đảo đào lấy những giống khoai giống củ, những loại cây ăn được đem về trồng.
Vợ chồng Mai An Tim tuy sống hiu quạnh trên hoang đảo đời sống tuy khó khăn, nhưng không còn lo sợ chết đói. Họ ra sức khai khẩn trồng trọt để kiếm sống, trải qua hơn một năm tình chồng nghĩa vợ càng thêm đậm đà.
Sau có thơ rằng:
Đôi Ta chung sức chung lòng
Vượt qua gian khổ sống còn bên nhau
Màn trời chiếu đất có sao
Ngôi nhà hóc đá cũng xinh cũng lành
Trên đầu Ta đội Ông Trời
Dưới chân Mẹ Đất nuôi thời chúng Ta
Một năm cũng đã trôi qua
Thế mà vẫn sống chung nhau gánh gồng
Bàn tay trồng trọt gieo mầm
Giờ đây cuộc sống giảm lần nỗi lo
Cho đến một hôm có đàn chim lạ không biết từ đâu bay đến đậu đen ngòm cả một bãi cát. Đang là mùa hạ chúng bay đến trước mặt vợ chồng Mai An Tim kêu váng cả lên, rồi thả xuống năm sáu hạt.
Ít lâu sau từ những hạt ấy mọc ra một loại dây, bò lan nhanh chóng xanh um kỳ lạ. Dây bò đến đâu ra nụ hoa đến đó, nụ quả lạ kỳ. Vợ Chồng Mai An Tim xem không chán mắt, nụ quả nào quả nấy lớn nhanh như thổi da xanh mượt quả to bằng đầu người đã được hơn tháng.
- Mai An Tim trẩy một quả bổ ra thấy ruột đỏ, hạt đem nhánh, vợ chồng con cái đều nếm thử thấy mùi vị thơm thanh ngọt dịu, cả nhà reo lên Trời nuôi sống chúng ta rồi. Mai An Tim nói giống dây nầy Ta chưa từng thấy bao giờ Ta không trồng tự nhiên chim đem đến, không phải là Trời Cao. Đất Rộng nuôi chúng Ta đó sao.
- Từ hôm ấy vợ chồng ra sức lấy hạt gieo trồng ra thật nhiều, màu xanh phủ khắp, quả to lớn lúc nhúc như heo con nằm chen theo lá khắp cả đám.
- Cũng trong thời điểm ấy có một chiếc tàu bị bão trôi dạt vào cù lao, thấy trên bãi cát một màu xanh rộng lớn lại có nhiều quả lạ chưa nhìn thấy bao giờ, mọi người liền lên bãi cát. Vợ chồng Mai An Tim ra chào đón, hái vài quả cho những người mới đến ăn thử, ai nấy cũng thấy ngon, vài người Bắc Văn Lang khen là ( Hẩu ) cũng từ đây trở thành quả dưa Hấu.
- An Tim là người thành thạo nhiều nghề, giúp họ sửa bườm lái để trở về đất liền. Mai An Tim còn đưa biếu một số dưa Hấu vài chục quả. Để họ đem về đất liền quảng cáo cho nhiều người, nhắn rằng ai muốn mua dưa Hấu thời chở gạo, gà, heo, đem ra đổi, không bao lâu chỉ cách đó mấy ngày, con thuyền thứ nhất đã đến cù lao đảo cắm neo ở đó. Họ chở đến nào là gạo, nào là cá, nào là gà, nào là heo, có cả nước mắm, thế là hai bên giao dịch buôn bán trao đổi tính giá trị cả hai bên đi vào thỏa thuận mua bán.
Vợ Chồng Mai An Tim, nhận gạo, gà, heo, cá, mắm, còn họ thời khuân vác dưa đưa xuống thuyền.
- Chỉ qua một lần trao đổi buôn bán vợ chồng Mai An Tim đã đổi đời không còn ăn rau, củ, quả để sống, bữa ăn cơm trắng cá tươi, hơi cơm bốc lên nghi ngút. Nàng Ba ôm lấy con vui mừng sung sướng, Trời nuôi chúng Ta thực rồi.
- Cũng từ đây vợ chồng Mai An Tim làm chuồng trại ra sức chăn nuôi, gà, heo, cũng như ra sức trồng thật nhiều dưa, màu xanh tăm tắp thuyền buôn ra vào hòn đảo, thuyền chài lần lượt chở gạo, áo, quần, gà, lợn, dao, búa, cuốc, cào, có cả thứ giống khác như bí, bầu, để đổi lấy dưa.
Vợ chồng Mai An Tim giàu nhanh như thổi, người ta tranh nhau ra đảo mua dưa, tiếng tăm Mai An Tim vang dội trên đất liền, giống dưa Mai An Tim đã lan tràn khắp nơi, người ta tôn Mai An Tim là Bố Cái Dưa Tây.
Tiếng tăm Mai An Tim lừng lẫy bay đến tai Hùng Duệ Vương. Hùng Duệ Vương liền cho người thân tín bí mật ra Cù Lao Nga Sơn, xem thật hư như thế nào.
- Sứ thần bí mật đến hoang đảo thấy Mai An Tim đã trở thành ông chủ, không bao lâu nữa Mai An Tim trở nên giàu có lớn. Sứ thần trở về đất liền kể lại cho Vua Hùng Vương nghe.
- Muôn tâu Quốc Vương Bệ Hạ, đúng như lời đồn Mai An Tim đã đổi đời, nhờ Trời che chở và giúp đỡ, Mai An Tim không những không chết, mà trở nên giàu có nhờ giống dưa Hấu. Giống dưa Hấu là do đàn chim đem đến cho vợ chồng Mai An Tim. Vua Hùng nghe xong Mai An Tim đã nói đúng, mưu sư do người tạo, thành sự do Trời Ban, biết bao kẻ đầy mưu mô nhưng nào có thành, là vì Trời không ban cho vậy.
Từ đó Vua Hùng luôn suy nghĩ nhận thức lời dạy Ông Cha, nhất là lời dạy Quốc Tổ. Mưu sự do người thành sự do Thiên. Cũng như mình đây muốn có con trai để nối dõi nhưng không bao giờ được, tất cả là do Trời. Hùng Duệ Vương không còn giận Mai An Tim nữa. Mà giận lũ nịnh thần luôn làm hại người trung lương.
Hùng Duệ Vương càng suy nghĩ thấy lời nói Mai An Tim càng có lý con người gặp được bao điều may mắn không phải tự nhiên mà có, cũng chẳng phải tài ba gì, mà là nhờ Hồng Phúc Ông Bà Cha Mẹ, cũng như Phước Lộc Trời ban, nên mới được như vậy.
- Vào một buổi chầu triều, Vua Hùng quở các khanh có tài nói phét, nhất là quan Viên Hầu, cũng vì sự dốt nát làm đâu hỏng đó, để cho thợ dựng hư hỏng một tòa nhà, Vua buột miệng than thở.
- Phải chi có Mai An Tim thời đâu đến nỗi như ngày hôm nay. Vị Quan Viên Hầu tái mặt vì đã hại Mai An Tim, Thấy Vua nhắc mãi đến Mai An Tim, vị quan già khi xưa tâu rằng. Lời nói Mai An Tim đã linh ứng, Trời đã giúp Mai An Tim thoát nạn, mà còn trở nên giàu dân chúng ngợi ca gọi Mai An Tim là Bố Cái Dưa Tây.
- Nếu Quốc Vương còn nghĩ đến Mai An Tim sao không cho người ra đảo đón rước vợ chồng Mai An Tim về cung.
- Một hôm có người thương buôn ở Châu Ái mang đến cho Vua Hùng một thuyền dưa Hấu nói. Đây là lễ vật của Ông Bà Mai dâng lên Bệ Hạ. Ông Bà Mai bây giờ đã giàu, có cả ruộng lúa, có đến mười người hầu, và rất nhiều gà, bò, heo, dê. Vua Hùng nhận dưa rồi phân phát ra cho các quan. Bửa thiết triều các quan đều nói dưa rất ngon.
Vua Hùng nói Mai An Tim là bậc kỳ tài, giàu nghị lực, mới vượt qua nổi sóng gió đến nơi an toàn.
Bằng sai Cha vợ Mai An Tim cùng các quan ra đảo đón vợ chồng Mai An Tim về cung phục hồi chức cũ, cấp phát cho nhiều vàng, bạc, châu báu.
- Những người ở lại hoang đảo, là những người ăn kẻ ở tiếp tục công việc của hai vợ chồng Mai An Tim. Họ thành lập làng Mai An, ở ngôi nhà cũ hai vợ chồng Mai An Tim, họ lập đền thờ, thờ hai vợ chồng Mai An Tim. Ông Bà Tổ dưa Hấu, dưa Tây, nơi đảo cù lao Nga Sơn, sau trở thành Châu An Tim.
98. ĐỜI CHA ĂN MẶN, ĐỜI CON KHÁT NƯỚC; ĐỜI CHA ĂN Ở CÓ ĐỨC, ĐỜI CON KHÔNG SỨC MÀ ĂN
Ngày xửa ngày xưa có hai anh em cùng cha cùng mẹ, người anh tên là Tận, người em tên là Dụng. Hai anh em mỗi người mỗi tánh khác nhau, người anh chuyện ác nào cũng làm đâm thuê giết mướn, buôn gian bán lận, chuyên ngồi trên đầu trên cổ người ta, lưu manh xảo trá không ai bằng.
Người em thời khác xa thường hay làm lành giúp đỡ người nầy người kia, không làm hại một ai sống đời lương thiện.
- Ở vào thời kỳ ấy đất nước chia làm hai phe, một bên là Bì Da, một bên là Thớ Thịt. Cảnh Nồi Da xáo Thịt hai bên tàn sát chém giết lẫn nhau. Anh em nhà Tận, Dụng, sống bên Thế Lực Bì Da, Tận anh của Dụng vốn là tay gian ác thường gây ra nhiều đều phạm pháp bị Thế Lực Bì Da truy bắt. Tận trốn chạy dẫn theo em là Dụng gia nhập quân Thớ Thịt.
- Với bản tánh xảo trá gian manh hung ác Tận giết chết nhiều binh lính bên Thế Lực Bì Da, Tận lên chức như bay. Còn Dụng thời lại khác không muốn sát hại binh lính Thế Lực Bì Da, vì nghĩ rằng Thế Lực Bì Da, Thế Lực Thớ Thịt cũng từ một nhà mà ra, kẻ theo bên kia người theo bên nọ chia bè chia phái, Tranh giành chém giết kẻ Nam, người Bắc thôn tính lẫn nhau. Người Dân Nam, Bắc đều là nạn nhân của cuộc chiến, không đi lính bên nầy, thời cũng phải đi bên kia, trốn cũng không được vì trong thế bắt buộc phải đi. Dụng hiểu rõ binh lính chỉ là nạn nhân nên không nở ra tay giết anh em cùng Cội cùng Nguồn dòng máu Tiên Rồng. Nên Dụng xin qua lao động sản xuất suốt mấy mươi năm không lập được công lao thành tích to lớn gì, chẳng có một cái huy chương để đeo, mãi vẫn là anh công nhân, tiền bạc chẳng dư gì đủ sống qua ngày đôi lúc cũng gặp khó khăn.
Nhưng Tận thời lại khác, hạ gục đồng loại anh em bên Bì Da kẻ gì cả trăm. Thành tích nhiều không đếm xể. Huy chương lủng lẳng đeo cả đùm từ trên ngực xuống tới hán.
- Ở vào thời mạc pháp càng làm ác thời càng được việc, càng âm hiểm càng thành công, Thế Lực Thớ Thịt là thế lực Âm hiểm hợp với cực Âm. Nói chung là hợp với huyền cơ Tạo Hóa chuyển đến thời mạc pháp Âm thịnh Dương suy. ở đời ai cũng biết, trộm, cướp lợi, thế về đêm. Hiểm ác lợi thế về thời Mạt Pháp. Nên Thế Lực Thớ Thịt đã hiểm ác lại thích hành động bóng đêm, nên đánh đâu thắng đó, làm chi đặng nấy. Đây cũng là mưu sự hợp thiên hợp với chu kỳ Mạc Pháp dễ lầm tưởng là mình tài ba, thật ra chẳng qua gặp vận thời đem đến thành công mà thôi.
- Đã đi vào cuộc chiến tranh chém giết lẫn nhau. Ở vào thời Mạc Pháp, Âm thịnh Dương suy càng ác càng hiệu quả Thế Lực Bì Da cái Ác còn non trẻ, sự thâm hiểm còn ở cảnh giới cháu chắt của Thế Lực Thớ Thịt, đành phải thua cuộc ra đi.
Thế Lực Thớ Thịt nghiễm nhiên trở thành lãnh đạo đất nước, chuyển sang giai đoạn mới. Giai đoạn nhận lãnh quả báo những gì mình đã gieo ra. Trong Thế Lực Thớ Thịt kẻ làm nên ăn ra, người đi vào tàn rụi. Nhìn vào cuộc sống hai anh em Tận và Dụng cùng một Chế Độ mà hai người hai cảnh giới khác nhau.
- Nói về Tận anh của Dụng do lập nhiều chiến công lên hàng tướng, tá, muốn gì có nấy nhà lầu xe hơi. Nhưng đường con cái đứa khờ, đứa tàn, đứa mách. Người ta thường nói Ông Trời có mắt gieo ác gặt họa chính là đây. Tiệt đường hậu lai đi ra khỏi nhà thời thôi, về nhà nhìn bầy con hư hỏng không ra trò trống gì. Tận không khỏi than van nhưng biết trách vào đâu không hiểu vì sao mà ra nông nổi như thế, có người hiểu Tận biết Tận vốn tâm địa độc ác, bằng nói bụng làm dạ chịu than vãn nỗi gì. Tận nghe xong nổi điên nói tôi làm gì mà bụng làm dạ chịu.
- Nói về Dụng tuy không có gì là khá đồng lương nấn ná cũng tạm sống qua ngày. Có lẽ do bản tánh hiền lành, đường con cái sanh ra đứa nào đứa nấy trai hay gái đều thông minh, đỗ đạt công danh cử nhân, đại học. Con gái lớn có chồng làm đến Bộ Trưởng, giàu sang ngất ngưởng tận đỉnh cung mây. Con gái kế chẳng kém thua ai, đi vào cảnh giới bán mua làm nên ăn ra tiền tỉ. Con trai thứ ba thời leo lên tận đỉnh công danh, nhà lầu tầm cỡ hai ba cái, xe hơi đắt giá sáu bảy chiếc, cơ sở làm ăn khắp chỗ, làm ăn chẳng thấy lỗ cái lời như nước vỡ bờ vàng bạc chảy vào nhà xối xả, tiền bạc đếm không nổi phải đếm bằng máy. Với địa vị Tổng Giám Đốc điều hành công ty mẹ công ty con, không những trong nước mà còn ngoài nước.
- Mỗi lần vào dịp gia đình cúng giỗ anh em nhà Tận, Dụng, gặp nhau Dụng mặt mày lúc nào cũng sáng rỡ, còn Tận mặt mày luôn ủ rũ. Dụng nhìn Tận rồi nói em bao giờ cũng thua anh, nhất là về bằng khen, những tấm huy chương, treo bên bàn thờ kín chỗ. nội nhìn không cũng thấy no, người yếu bóng vía nhìn thấy thời xây xẩm mặt mày, Tận nghe xong làm thinh chẳng nói gì.
Ông chú họ thấy anh em Tận và Dụng ngồi nói chuyện cũng vui, bằng xen vào nói. Ở đời Luật Gì cũng có chỗ hở để né tránh. Nhưng Luật Nhân Quả báo ứng, thời không ai có thể né tránh được dù cho một mảy lông cũng không lọt đã gieo thời phải nhận, đã vay thời phải trả.
Theo Luật báo ứng, đời Cha ăn mặn đời con khát nước, đời Cha ăn ở có đức, đời con không sức mà ăn.
Ông Chú Họ, liền kể ở kề nhà Chú có một người phụ nữ tên Ngao ăn chay trường, phải nói là rất nghèo nhưng ai cũng thương vì Bà Ngao thường hay giúp người. Sống bằng nghề làm đậu hủ đem ra chợ bán kiếm sống qua ngày dư chút ít thời nuôi con ăn học. Xung quanh nhà bà Ngao toàn là những tay có máu mặt giàu có nên rất coi thường bà. Biết thân phận nghèo Bà Ngao sống lủi thủi.
Những gia đình ở xung quanh nhà bà, đời Cha thời làm ăn ra phết, nhưng đến đời con toàn là ăn chơi trác tán chẳng ra đình đám gì, may lắm cũng chỉ đi làm thuê cho người ta.
Còn con Bà Ngao vào thành phố có lẽ nhờ Âm Đức của bà học hành đỗ đạt cao, khi ra trường không cần chạy chọt xin việc làm. Cũng làm chỗ được như ý, nay hai đứa con Bà Ngao tự mở công ty riêng không bao lâu trở thành tỉ phú. Mỗi lần hai đứa con Bà Ngao trở về thăm nhà, những gia đình xung quanh đều cúi mặt không dám ngó, vì thua kém quá xa. Trước đây ba hoa bao nhiêu thời giờ đây miệng câm như hến, đi theo xách dép người ta không cho nói gì lên mặt. Đúng với câu cười người hôm trước hôm sau người cười. Chê người ta nghèo nào hay đâu bể dâu thay đổi. Con cái Bà Ngao giàu nhanh như thổi, còn con cái nhà mình thời hư hỏng thậm chí còn đi ăn giựt người ta. Đúng với câu.
Khen ai thiện đức khéo tu
Đời sau con cháu võng dù nghênh ngang
Dẫu rằng để của bằng non
Không bằng để đức cho con ở đời
Đời Cha ăn mặn, đời con khát nước lạ gì
Tấm gương để lại cho đời soi chung
Ông Tận ngồi lắng nghe mà thấm thía khi hiểu ra thời cũng đã quá muộn ai lai ác báo nào có đâu sai. Nhìn ba người con đứa thời khùng khùng điên điên mách mách, đứa thời xì ke ma tuý đang cai nghiện, đứa thời bài bạc thiếu nợ đến bạc tỉ khổ cho đến chết hết đời mình còn liên lụy đến đời con, đời cháu, Tận nhìn Dụng rồi nói phải chi ba đứa con tôi chỉ cần được một phần mười của ba đứa con Chú Ba Dụng thời vui biết mấy. Nói xong Tận thở dài ngao ngán.
99. CÂU CHUYỆN ĐỘ NGƯỜI
Ngày xửa ngày xưa trên Thiên Đình có vị Đà La Thiên Tiên, thần thông pháp thuật vô biên, thấy có nhiều vị Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa xuống trần, độ người dễ quá. Có nhiều vị Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa làm đến vua trời cõi nước trang nghiêm xinh đẹp thiên chúng đông vô số vô biên.
Bằng nghĩ rằng: Sao Ta không xuống trần gian độ người cũng như thành lập cõi nước trời danh vang vũ trụ.
– Vị Đà La Thiên Tiên lại nghĩ đầu thai xuống trần thời quên hết tiền kiếp của mình, không còn thần thông trở thành người thường phàm tục, không may lạc vào con đường ác đạo hết mong trở lại cõi trời. Chi bằng Ta trực diện xuống trần chẳng cần đầu thai chi cả tìm một nơi thanh vắng để ở, không vướng bận tục trần, khi nào trở lại cõi trời thời trở lại dễ dàng, có phải là hay hơn không, cần gì đầu thai trực diện xuống trần xuống trần độ người. Sao các vị Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa không chọn con đường nầy mà chọn con đường đầu thai.
– Vị Đà La Thiên Tiên mở con mắt thứ ba nhìn xuống trần gian xem dân chúng nước nào dễ độ nhất, xem xét một hồi nhìn thấy nước Vân Nam phần đông có Đạo biết tôn thờ Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa coi bề dễ độ hơn những nước khác.
– Vị Đà La Thiên Tiên liền bay xuống trần gian hạ chân xuống dãy núi Đại Hùng nơi có động Vu Sơn, nơi đây cảnh quang đẹp như tranh không khác gì Bồng Lai Tiên Cảnh.
Hành trình tiếp theo Vị Đà La Thiên Tiên xem nơi nào dân chúng dễ độ nhất thấy huyện An Tân dân chúng thường cầu bái Thần Linh. Vị Đa La Thiên Tiên bằng hiện thân đến đó dùng pháp thuật thần thông biến hóa dân chúng thấy thế thi nhau mà bái mà lạy.
– Dân chúng cho rằng Phật, Thánh, xuất hiện tiếng đồn vang xa dân chúng thi nhau mà đến càng ngày càng đông. Thi nhau mà cúng đủ thứ trên đời, đủ moi mọn món, chẳng thiếu món chi có người cúng cả heo, bò, dê, trâu, vàng bạc kim cương, trân châu, dâng lên cúng dường. Lớp trong lớp ngoài đông như kiến, thi nhau chen lấn người chật như nêm thành tâm quỳ lạy lễ bái, nhiều vô số kể.
Vị Đà La Thiên Tiên thấy thế nghĩ rằng độ người quá dễ, không như những gì mình nghe các vị Tổ thường thuyết giảng rằng độ người rất khó, chỉ cần độ được năm ba người phước đức vô cùng, danh tiếng lẫy lừng. Còn như Ta đây Vị Đà La Thiên Tiên nhìn người lễ lạy lớp lớp trùng trùng cứ như thế nầy không bao lâu Ta độ hết thiên hạ về trời.
– Vị Đà La Thiên Tiên liền thuyết giáo truyền dạy rằng trần gian chỉ là cõi tạm, các ngươi hãy theo Ta thời muốn gì được nấy, không đau, không bệnh, không già, không chết. Dân chúng nghe nói thế thi nhau mà lạy mà bái mà cúng, mà cầu.
Dâng lên cúng dường nải chuối, miệng cầu đủ thứ nào là cầu giàu sang, cầu khỏi bệnh, cầu con cháu thành đạt, cầu tai qua nạn khỏi, cầu trả được nợ, cầu tăng tuổi thọ, cầu đỗ đạt công danh, cầu siêu sanh lên trời. Cầu nuôi gia súc gia cầm chóng lớn, cầu mua may bán đắt, nói chung dân chúng kéo đến thi nhau lễ lạy thi nhau mà cầu.
– Để đáp ứng được nguyện vọng của thiên hạ bá tánh vị Đà La Thiên Tiên phải hóa thân nghìn muôn ức, mỗi hóa thân đều ra sức đáp ứng sự cầu, làm việc quên ăn bỏ ngủ mũi miệng tranh nhau mà thở cứu độ như thế được ba năm.
– Một hôm vị Đà La Thiên Tiên mở con mắt huệ thứ ba quán sát tất cả sanh chúng trong ba năm mình tận độ được bao nhiêu người thành tựu thiện đức, thành tựu trí huệ giác ngộ chân lý thoát khỏi Địa Phủ siêu sanh về Thiên Giới.
Thời hỡi ơi không thấy được một người thiện đức, tâm trí u tối, chẳng rõ thông chân lý, chỉ cầu mong được cái nầy thời cầu mong có cái kia. Đã được giàu sang thời cầu mong có quyền lực. Tiền bạc dư xài thời sanh ra tánh bài bạc. Số người đông như kiến không được một người siêu sanh về thiên giới, mà chỉ thấy họ đi sâu vào vọng cầu, khi được cái nầy thời cầu đến cái kia, lòng tham không đáy không biết bao nhiêu là đủ, cúng một nải chuối cầu mua được xe hơi làm nhà lầu, có nhà lầu xe hơi, thời cầu ăn món ngon vật lạ, nem rồng chả phụng lên mặt với đời.
Không thấy một người tu tâm dưỡng tánh, xa lánh tham vọng để tâm thanh tịnh, hội ngộ Lương Tâm, tội lỗi tiêu tan siêu sanh về trời. Phần nhiều hầu hết tu cầu tu cạnh cầu cho thân thể khỏe mạnh lao theo con đường trị lạc gái gú ăn chơi. Khi được giàu sang thời khoe khoang ăn tiêu xả láng. Tử sáng đến chiều miễn là tiền vô nhiều là được, khi lâm nạn thời tới cầu xin đủ thứ.
– Vị Đà La Thiên Tiên kinh hoảng tưởng đâu độ con người rất dễ, nào hay đâu ba năm luống sức phí công, nhìn thiên hạ lớp trong lớp ngoài mà phát ớn, họ đến đây không phải là tu tâm sửa tánh, mà là cầu đủ thứ theo lòng tham vọng của mình, biến Thần, Thánh, trở thành cộng cụ phục vụ cho lòng tham cầu mong đủ thứ mà thôi. Chán ôi là chán vị Đà La Thiên Tiên liền biến mất bay về trời. Xuống trần ba năm phục vụ tận tình đáp ứng lòng cầu mong của thiên hạ. Nhưng rốt cùng xem lại không những không độ được một ai, mà còn làm tăng thêm lòng Tà Vọng mong cầu vào người khác, bỏ rơi Phật Tánh, Chân Thánh của chính mình, lạc cội sai đường đi sâu vào mê tín dị đoan.
– Vị Đà La Thiên Tiên trở về trời định tỉnh Linh Hồn nghĩ lại trước đây lòng cao ngạo háo thắng, nghĩ mình trí huệ còn non kém mà tưởng mình đã đạt đến cảnh giới vi diệu thậm thâm. Vị Đà La Thiên Tiên liền bay lên trung thiên giới cầu gặp Đức Chí Tôn. Thấy Đức Chí Tôn ngồi trên tòa Thái Cực bảy báu, có Ngũ Long, Ngũ Phụng đang chầu hào quang trùng trùng trông đẹp mắt lạ lùng.
Trước vẻ uy nghi của Đức Chí Tôn. Vị Đà La Thiên Tiên bằng chắp tay thưa rằng, con đã xuống trần ba năm, thiên hạ theo về trùng trùng, đổ công sức vì nhân loại gian khổ ba năm phục vụ hết mình, nhưng khi kiểm tra lại không độ được một người là tại làm sao? Xin Đức Chí Tôn chỉ dạy cho.
– Đức Chí Tôn nói rằng: Nầy Ông Đà La Thiên Tiên muốn độ người trần gian, không nên thị hiện phép tắc thần thông. Mà phải đầu thai trở thành một người thường dân, cũng đau, cũng bệnh, cũng bị người ta hại, trải qua bao kiếp nạn của con người, lội ngược dòng chảy hồng trần, hi sinh tất cả, chịu đựng sự phỉ nhục, khen, chê, ở đời, chịu đựng sự khảo đảo của Ma Vương và Đại Quỉ. nói chung là bị thử thách và khảo đảo. Nhưng vượt qua tất cả, thiên hạ nhìn thấy nể phục thời coi như đã độ được một nửa thiên hạ.
Còn một nữa kia thời phải lập ra nhiều phương tiện. tức là giáo lý chánh pháp. Kinh, Thơ, Triết, Truyện, Văn, Sử, Giới Đức. Tâm nhân loại có nhiều thứ bệnh, Thời phải lập ra nhiều thứ thuốc, bệnh nào thuốc nấy có làm được như thế thời độ nhân loại chẳng khó gì. Bệnh Tâm là bệnh vô vi. Thời phải Lấy Kinh, Thơ, Triết, Truyện, Văn, Sử, Giới Đức mà độ. Bệnh hay cầu cạnh mà quên Phật Tánh, Thánh Tánh của mình. Thời phải có kinh thơ chỉ đường soi sáng. Bệnh hay nương nhờ vào người khác đánh mất căn bản tự chủ của mình. Thời phải có kinh giáo soi đường thức tỉnh biết Tánh tự tu, biết Tâm tự độ khai mở trí tuệ, thời mới mong độ được thiên hạ con người siêu sanh về trời. Tâm thanh Tịnh là tự độ mình. Độ nhân loại mà không làm cho Tâm nhân loại thanh tịnh. Lại làm cho Tâm nhân loại vọng động mong cầu tham dục bất chính càng lớn. Cầu mong cái nầy chưa xong đã sang qua cầu mong cái khác. Đáp ứng sự cầu mong tham dục là tiệt đường siêu thoát, đừng nói là ba năm dù trải qua một trăm năm cũng không độ được một người.
Vị Đà La Thiên Tiên nghe lời giảng dạy của Đức Chí Tôn liền chứng quả Vô Thượng Trí Huệ. An Trụ Pháp Nhẫn, Nguyện sanh xuống chốn trần gian tu hành dẫn dắt con người trở về thiên giới, như những gì Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa đã từng làm.
100. LÝ TRỌNG
Ngày xửa ngày xưa nơi cõi trần gian có một đất nước Tây Quản. Ở làng Mỹ Đức, Hồ Châu. Có một người tên là Lý Trọng, tánh tình cao ngạo không tin Nhân Quả, xem thường Tôn Giáo, Đạo Giáo, thường kể tiếu lâm nhạo bán thầy tu, sát sanh hại mạng, gà, vịt, dê, heo vô số kể, làm ăn ra của phải nói là giàu.
– Lý Trọng năm sáu mươi tuổi, một hôm lâm cơn bệnh nặng liền thấy hai con quỉ đến bắt hồn dẫn đi. Đeo vào cổ Lý Trọng đinh bài ác phạm tội đồ. Đưa hồn Lý Trọng xuống Âm Ti Địa Phủ tần thứ nhất. Sau đó thời giải đến pháp tòa. Nhất Điện Diêm Vương nhìn đinh bài đeo trên cổ Lý Trọng để bốn chữ Ác Phạm Tội Đồ. Bằng nói người nầy quả là hung ác, nhất là ác nghiệp phỉ bán các Tôn Giáo Đạo Giáo. Nhất Điện Diêm Vương hỏi ngươi có nhớ là phỉ báng Tôn Giáo, Đạo Giáo, khinh thường người tu tôn thờ Tôn Giáo Đạo Giáo bao nhiêu lần không? cũng như sát sanh hại mạng giết bao nhiêu gà, vịt, lợn, dê, chó? Lý Trọng nói tôi không nhớ rõ.
– Diêm Vương nhìn người bên trái nói Thẩm Phán Thẩm Tra người nầy phỉ báng Tôn Giáo, Đạo Giáo, cũng khinh thường người tôn thờ Tôn Giáo, Đạo Giáo bao nhiêu lần, cũng như sát hại sanh mạng gia cầm gia súc bao nhiêu mạng.
Thẩm Phán Thẩm Tra xem một hồi rồi nói tên nầy đã giết 9 nghìn 9 trăm 50 mạng. Nhạo báng Tôn Giáo, Đạo Giáo, khinh thường người tôn thờ Tôn Giáo, Đạo Giáo. 10 nghìn 200 trăm 60 lần. Nhất Diện Diêm Vương quay sang nhìn người bên phải hỏi, tội nầy thời xử ra sao? Phán Quan Luận Án phán Tội nói.
Thưa Diêm Vương tội nầy phải hành xử qua nhiều ngục.
1, Ngục đâm chém
2, Ngục chảo đồng
3, Ngục cối xay sắt
4, Ngục gà mổ heo xơi
5 Ngục chặt khúc
6, Ngục bỏ vào ao giá
7, Ngục bị cung tên bắn
8, Ngục xẻ thịt phân thây
9, Ngục rút gân đục sườn
10, Ngục lột da nạo mặt
11, Ngục moi gan móc tim
12, Ngục móc mắt cắt lưỡi
13, Ngục cưa xẻ
14, Ngục quết nem
15, Ngục xối nước sôi
16, Ngục ngậm lửa
17, Ngục nướng quay
18, Ngục kéo lưỡi ra cày
Nhất Điện Diêm Vương nghe Phán Quan đọc bản án lấy làm gục đầu nói y án.
Quỉ đầu trâu, quỉ mặt ngựa dẫn Lý Trọng đến nơi hành hình Địa Ngục đâm chém. Lý Trọng kinh hồn bạc vía nhìn thấy những tội nhân bị hành hình máu tuôn lênh láng, tiếng la ré đau đớn khiếp đảm kinh hoàng. lũ quỉ mặt mày hung dữ con thời cầm đao, con thời cầm mác, con thời cầm lê thi nhau đâm rối xả vào linh hồn nạn nhân, Lý Trọng như muốn ngất đi vì quá sợ hãi.
Hai con quỉ dạ xoa vừa nhìn thấy Lý Trọng bị quỉ đầu trâu quỉ mặt ngựa dẫn vào ngục, thời lao tới tóm cổ lôi đi, nhiều con quỉ khác cầm đao chạy tới lâm le đao búa lê mác thấy mà khiếp vía. Lý Trọng như muốn chết ngất, nhưng lũ quỉ nào có tha chúng trói chặt Lý Trọng rồi đâm cho mấy nhác. Nhưng kỳ lạ thay đâm không thủng lũ quỉ ngơ ngác rồi đâm tiếp mấy nhác nữa cũng đâm không thủng lũ quỉ gào thét ầm ỉ thi nhau mà chém mà đâm mà lụi, đao mác gãy lìa. Lý Trọng cũng quá bất ngờ không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Lũ Quỉ kinh hồn liền nói thằng nầy có pháp thuật không thể đâm chém được hãy dẫn qua bên Ngục chảo đồng nấu nhừ.
– Hai con quỉ lôi đầu Lý Trọng qua ngục nấu nhừ, mới bước vào ngục Lý Trọng đã nghe dầu sôi sùng sục, tiếng la ré hãi hùng của những linh hồn sắp bị quăn vào chảo dầu, hai con quỉ lôi đầu Ly Trọng đến một chảo dầu đang sôi sùng sục con quỉ nầy nói với con quỉ kia quăng nó vào chảo dầu đi, thế là Lý Trọng bị chúng quăn vào chảo dầu, nhưng lạ thay Lý Trọng không nghe đau đớn hay nóng gì, trong khi dầu đang sôi sùng sục, mà chỉ thấy mát lạnh trong người, hai con quỉ thấy Lý Trọng không hề hấn gì ngâm mình trong chảo dầu đang sôi sùng sục, thời lấy làm kinh dị, hai con quỉ lấy quạt lửa ra quạt, lửa bùng lên dữ dội phủ kín cả chảo dầu. Dầu sôi càng dữ dội, nhưng Lý Trọng vẫn tỉnh bơ như không có chuyện gì đã xảy ra.
Mấy con quỉ kinh hãi la lớn thằng nầy không thể nấu nhừ hay chiêng ráng gì được mà phải đưa đến cối xay để xay. Chúng lôi Lý Trọng ra khỏi chảo dầu ì ạch thằng nầy sao giờ đây nặng thế không lẽ dầu đã thấm hết vô trong mình nó. Bọn quỉ không lôi cổ Lý Trọng được nửa đành phải khiêng Lý Trọng đi. Vừa đến ngục cối xay Lý Trọng nghe cối xay sắt xay ồ ồ pha lẫn tiếng thét hãi hùng đau đớn của những linh hồn đang bị xay máu chảy lênh láng nhìn thấy mà phát khiếp.
Lũ quỉ nhanh chóng bỏ Lý Trọng vào cối xay, chỉ thấy cối xay, xay mãi mà không xay được Lý Trọng, Lý Trọng vẫn sờ sờ không hề hần gì, bọn quỉ kinh sợ nói người nầy vô cùng quái dị không xay được. Bằng bàn tính với nhau người nầy xay không được, nấu dầu không chết, đao kiếm đâm không thủng thôi thì quăn người nầy xuống địa ngục lạnh giá, thế là lũ quỉ khiêng Lý Trọng đến ngục lạnh giá chưa đến ngục giá lạnh, mà hơi lạnh đã thấu xương. Lý Trọng bị lũ quỉ quăn vào ngục giá lạnh, Lý Trọng nhìn thấy những linh hồn bị lạnh quá nức da tét thịt đau đớn rên la chết đi sống lại không biết bao nhiêu lần. Lý Trọng ở trong ngục giá lạnh như ở trong hồ nước mát không hề hấn gì. Lũ quỉ thấy vậy liền khiêng Lý Trọng qua địa ngục tên bắn.
Chưa đi đến ngục mà đã nghe tiếng xé gió vù vù tiếng thét hãi hùng gào lên thê thảm những linh hồn đang bị tên bắn. Lý Trọng bị lũ quỉ liệng vào ngục tên bắn thời không khỏi hãi hùng khi nhìn thấy những linh hồn thân đầu trúng đầy tên, tay chân không có chỗ nào là không bị trúng tên linh hồn phạm nhân rên la đau đớn.
Lũ quỉ cai ngục tên bắn, vừa nhìn thấy Lý Trọng thời thi nhau nã tên nhưng tên không trúng người Lý Trọng, lũ quỉ càng tức giận bắn hơn nữa bắn mỏi tay cũng không làm rụng mảy lông Lý Trọng. Lũ quỉ sợ quá không bắn nữa cột trói Lý Trọng nằm đó. Chúng bàn với nhau đưa Lý Trong qua ngục phân thây. Lũ quỉ ở ngục nầy rất hăng thấy người là thi nhau chém tới. Con thời chặt chân, con thời chặt tay, xúm nhau phân thây Lý Trọng nhưng chúng không làm gì được tay chân Lý Trọng cứng hơn sắt, dao cắt không đứt cứng hơn da đồng.
Lũ quỉ mệt nhừ cũng không làm gì được Lý Trọng. Lũ quỉ nói thằng nầy khi còn ở nhân gian ăn thứ gì là da thịt cứng như thế. Lũ quỉ bằng khiêng Lý Trọng qua ngục rít gân đục sườn. Chúng cột trói Lý Trọng vào cột đồng. ra sức rút gân đục sườn, tiếng đục rền vang địa ngục, nhưng da thịt Lý Trọng vẫn trơ trơ như đá. Lũ Quỉ rút gân không được đục sườn không xong. Lũ quỉ la lên thằng nầy có phép biến thành mình đồng da sắt không làm chi được. Bằng đưa qua ngục moi tim lột da. Lũ quỉ dạ xoa ở đây nghe nói Linh Hồn Lý Trong da thịt cứng lắm không làm chi được, bằng tâu lên bọn đầu trâu mặt ngựa đưa những dụng tốt nhất moi tim lột da. Lũ quỉ ra sức mổ bụng moi tim nhưng mổ mãi không thành, chúng ra sức lột da lột mãi không được. Quỉ đầu trâu mặt ngựa chứng kiến cảnh ấy vô cùng kinh dị lấy làm lạ, lại nghe lũ quỉ dạ xoa nói không có ngục nào hành xử được liền sinh nghi người nầy tu pháp môn gì mà thần thông quảng đại như vậy. Bằng tâu lên Nhất Điện Diêm Vương.
Diêm Vương nói con ma Lý Trọng ghê gớm như vậy sao. những đao kiếm thường hành hình không được, thời phải dùng đến Thần Kiếm, Thần Đao, bằng cho người lấy Thần Kiếm Thần Đạo đưa cho quỉ đầu trâu, mặt ngựa, hành xử Lý Trọng.
– Nói về Lý Trọng không hiểu tại sao mình lại có Thần Thông kỳ lạ như vậy, nên không còn sợ hành hình nữa. Nhìn thấy quỉ đầu trâu mặt ngựa dẫn theo sau lũ quỉ dạ xoa những con quỉ đã từng hành hình mình, như không làm gì được. Quỉ đầu trâu, quỉ mặt ngựa ra lệnh trói Lý Trọng vào cột đồng. Quỉ đầu trâu mặt ngựa nhìn Lý Trọng rồi nói đã xuống địa phủ dù cho phép tắc đến đâu cũng bị hành hình.
Quỉ đầu trâu rút Thần Đao ra, ánh sáng Thần Đao tỏa ra ghê rợn. Lý Trọng vô cùng kinh sợ liền nhớ đến bốn chữ Nam Mô- A Men ánh đao chớp lên chém xuống ken một tiếng kinh thiên động địa Thần Đao như muốn gãy lìa. Quỉ đầu trâu khiếp vía. Quỉ mặt ngựa thấy vậy cũng kinh hoảng bằng rút Thần Kiếm ra phóng kiếm lên không niệm chú, tức thời Thần Kiếm tỏa ra muôn đạo hào quang từ trên không lao xuống Lý Trọng sợ quá miệng lền niệm Nam Mô- A Men Thần kiến lao xuống tới đỉnh đầu thời không lao xuống được nữa nổ lên một tiếng như sấm sét mất hết hào quang rơi xuống đất. Quỉ đầu trâu, quỉ mặt ngựa cùng lũ quỉ da xoa khiếp vía ngơ ngác đứng nhìn Lý Trọng.
– Quỉ đầu trâu, quỉ mặt ngựa báo lên Nhất Điện Diêm Vương. Nhất Điện Diêm Vương nghe xong cũng tái mặt, chuyện gì đã xảy ra. Đã sử dụng đến Đao Thần, Kiếm Thần mà cũng không làm chi được, thời biết làm sao đây, con ma nầy đã ra ngoài càn khôn rồi trường sanh bất tử, biết làm sao đây.
– Bằng nói đưa Lý Trọng đến đây không hành xử nữa, quỉ đầu trâu, quỉ mặt ngựa dẫn Lý Trọng đến trước pháp tòa. Nhất Điện Diêm Vương hỏi, nầy Lý Trọng ngoài tội xem thường các Đạo Giáo, Tôn Giáo, kìa cói nhạo báng người tu, cũng như sát sanh hại mạng, ngươi còn tu pháp môn gì mà kỳ quái như thế. Lý Trọng nói tôi không theo đạo nào cả chỉ tôn thờ Ông Bà Cha Mẹ mà thôi.
Nhất Điện Diêm Vương bằng cho người gọi Thẩm Phán sổ bộ đến phán rằng Ông xem kỷ lại hồ sơ tên nầy ở trần gian tu pháp môn gì mà địa ngục hành hình không được.
– Thẩm Phán sổ bộ xem xét lại từ đầu đến cuối pháp hiện Lý Trọng thường hay niệm Nam Mô- A Men. Bằng tâu thưa Diêm Vương người nầy khi ở trần gian thường hay niệm Nam Mô- A Men. Chỉ có thế thôi không tu theo đạo nào cả. Diêm Vương nghe nói đến bốn chữ Nam Mô, A Men thời kinh hãi nói đây là bài vị Thờ Trời.
– Diêm Vương nói thảo nào mà Thần Đao, Thần Kiếm chém không được. Dù cho Thiên Tiên, Địa Tiên cũng không hành hình nổi, huống chi là Địa Phủ của chúng Ta.
– Diêm Vương nói Nam Mô- A Men chính là bài vị Thờ Trời. Linh Chú của Thiên Ấn. Nay đã in sâu trong đầu Lý Trọng, thời khó mà hành hình cho được. Để Ta cầu lên Đức Chí Tôn giải quyết vụ nầy.
Vào điện thờ Trời Diêm Vương chắp tay cầu lên Cha Trời, cầu lên Đức Chí Tôn. Xin chỉ thị ý kiến.
Từ nơi hư không vọng xuống, hãy cho Lý Trọng sống thêm mười năm trở về trần gian ăn năng sám hối.
Diêm Vương từ Điện Thờ trở ra nói với Lý Trọng, theo lệnh của Trời Ta cho ngươi sống thêm mười năm nữa. Để ngươi ăn năng sám hối, ngươi không theo Tôn Giáo, Đạo Giáo thời thôi đó là quyền của ngươi điều đó không có gì là tội, nhưng không được nhạo báng Tôn Giáo, Đạo Giáo cũng như Thầy Tu, không được lạm sát hại mạng. Nếu biết tu theo Văn Hóa Cội Nguồn thời ngươi sẽ siêu sanh về trời, không còn trở lại nơi địa phủ nữa. Còn nếu ngươi tiếp tục con đường như trước đây, thời Đức Chí Tôn sẽ thâu bốn chữ Nam Mô- A Men trong đầu người. Quỉ Vô Thường sẽ bắt hồn ngươi xuống Địa Phủ hành hình. Diêm Vương nói xong liền sai quỷ vô thường đưa hồn Lý Trọng trở về trần gian nhập xác.
– Nói về gia đình con cái của Lý Trọng thấy cha đã mê sản hơn bảy ngày, ngày nào cũng rước thầy đến tụng kinh, nhảy múa bắt ấn, niệm chú, phù lửa, phun nước. Lý Trọng được quỉ đưa hồn về trần gian nhập xác liền mở mắt ra ngồi dậy nhìn thấy các Thầy đang nhảy múa phù phép gọi hồn liền nói làm ba cái trò nầy mà cứu được Ta sao?
– Các thầy đang nhảy múa nghe lý Trọng nói thế không bằng lòng cho lắm. Gia đình con cái nói nhờ các thầy đây ngày đêm phù phép gọi hồn nên Cha mới còn sống. Lý Trọng nói nơi địa ngục thiếu cha gì những vị Thầy như các Thầy đây bị quỉ hành hình đau đớn vô cùng rên la thảm thiết. Bằng kể lại tất cả những gì mình đã trải qua nơi Âm Phủ, cho gia đình cũng như các Thầy nghe. Lý Trọng nói Cha chỉ sống được thêm mười năm, trong mười năm còn lại Cha sẽ làm lành lánh dữ, không sát hại sanh mạng nữa. Nguyện tu hành theo Văn Hóa Cội Nguồn. Từ đó Lý Trọng đem tiền của giúp cho người nghèo, không con kìa cói nhạo bán các Tôn Giáo, Đạo Giáo nữa. Vì đã hiểu rõ Đạo nào cũng làm lành lánh dữ. Cùng một tôn chỉ với nhau. Là cầu mong siêu sanh về Thiên Giới. Thoát khỏi tam đồ khổ Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh.
Nam Mô Vô Tận Hư Không
A Men Như Ý liên thông đất trời
Chú Linh đệ nhất trên đời
Ấn Linh Pháp Chú không gì cao hơn
Nam Mô như ý A Men
Bài vị Linh Chú Anh Linh Thờ Trời
Chỉ cần đọc tụng một lần
Vượt qua kiếp nạn muôn trùng khó chi
101. NÀNG TIÊN THỨ CHÍN
Ngày xửa ngày xưa ở trên Non Tiên Thiện Kiến có gia đình Thiên Nga tu luyện thành người ( Trở thành Phi Tiên) Nga Vương có tất cả là chín người con gái duy chỉ có Út Nga là xinh đẹp hơn cả.
Út Nga một hôm đi chơi liền gặp một chàng trai khôi ngô tuấn tú chính là Công Tôn loài Công tu luyện thành người, thường tới lui kỳ quan, bảo tháp nghe kinh, nên Công Tôn ăn nói lưu loát Út Nga liền đem lòng thương yêu. Công Tôn cũng say đắm Út Nga. Thế là hai người lén lút bên nhau lâu ngày tới tai Nga Vương.
Nga Vương vô cùng tức giận, vì Nga Vương không thích loài Công nên quát mắng Út Nga nói rằng con không được qua lại với thằng khốn đó Út Nga bị cấm cố ở nhà. Công Tôn vì thương nhớ Út Nga muốn phát điên đành liều mạng đến nhà Út Nga.
– Nga Vương nhìn thấy Công Tôn tức quá hét lớn tao sẽ đánh chết mầy, thằng khốn dụ dỗ con gái tao. Công Tôn chỉ biết làm thinh không dám cãi lại hay chống trả bị Nga Vương đánh chết. Linh Hồn lưu lạc đến trần gian đầu thai vào một gia đình nghèo Ông Bà Gia Tự, ra đời với cái tên là Gia Đông ở gần Thị Trấn Cam Lông.
– Ông Bà Gia Tự tuy nghèo nhưng vẫn cho con đi học. Gia Đông học rất giỏi. Năm Gia Đông lên 16 tuổi không may Cha Mẹ qua đời Gia Đông trở thành mồ côi cha mẹ, một mình vào rừng đốn củi để sanh sống không ngờ lạc lối chẳng biết đường ra đi mãi đi mãi trước mắt hiện ra một suối tiên cảnh quang nơi đây đẹp như tranh vẽ, hoa nở khắp nơi.
Cảnh quang xinh đẹp biết bao là
Muôn sắc vạn màu, đủ thứ hoa
Suối trong in bóng, mây lơ lửng
Rừng xanh rộn tiếng, bởi chim ca
Bức tranh tạo hóa, như tranh vẽ
Bồng lai tiên cảnh, đã hiện ra
Lạc bước đi vào, nơi tiên cõi
Cũng thật là gần, nào có xa
Gia Đông đang say sưa ngắm cảnh bất ngờ từ trên trời bay xuống một đàn Thiên Nga. Gia Đông vội ẩn mình trong một khóm hoa. Đàn Thiên Nga đậu xuống bờ suối hiện ra chín nàng Tiên lần lượt cởi xiêm y để tắm. Người nào người nấy da trắng tựa bông, vóc dáng lưng eo ngực nở đầy mông. Gia Đông say sưa nhìn nàng Tiên thứ 9.
Nàng Tiên thứ 9 bắt gặp đôi mắt trong bụi hoa say sưa nhìn nàng. Các nàng Tiên tắm xong mặc xiêm y bay về trời, Gia Đông nhìn theo mãi như người mất hồn. Gia Đông không về nhà mà ở lại nơi đây trông chờ nàng Tiên thứ 9 xuất hiện.
– Nói về Út Nga cùng tám chị em bay trở lại Non Tiên Cực Lạc. Út Nga nhớ lại người lén nhìn mình ánh mắt vô cùng quen thuộc phải nói là rất quen. Út Nga nghĩ không lẽ là chàng Linh Hồn lưu lạc đến trần gian đầu thai làm người trần thế. Nàng liền bay trở lại trần gian đến suối Tiên, ở trên mây Út Nga nhìn thấy một chàng trai từ nơi suối Tiên ngâm bài thơ rồi bỏ đi.
Tháng năm thương nhớ một người
Bóng hình vời vợi đất trời xa xăm
Duyên tình sao quá mong manh
Dẫu bao thương nhớ cũng đành chia xa
Thương người nghĩ lại thương Ta
Đợi Chờ, chờ đợi tháng năm đợi chờ
Cố quên để hết nỗi sầu
Nhưng nào có được cạn bầu tâm tư
Tình xưa nàng đã lãng quên
Nàng không trở lại đợi trông ê chề
Thôi thì trở lại quê nhà
Quạnh hiu, hiu quạnh một mình cô đơn
Út Nga nào có biết chàng trai kia đã chờ đợi một năm trời. Vì trên Non Tiên Cực Lạc một ngày, thời ở nhân gian đã trải qua một năm. Út Nga nghe những lời thơ đau nhói trái tim nàng như muốn bật khóc.
Nói về Gia Đông chờ đợi nàng Tiên thứ chín ăn trái cây uống nước suối ròng rã một năm không thấy đàn Thiên Nga bay trở lại liền tìm đường trở về nhà. Út Nga bay theo sau nhìn thấy chàng trai đi vào ngôi nhà sụp xệ. Út Nga nghĩ chàng nghèo đến thế sao.
Trời đã vào xuân nơi đền thờ thường hay lễ hội, nam thanh nữ tú đi lễ đền thờ rất đông. Gia Đông cũng không ngoại lệ đi lễ hội đền thờ, đễ quên đi niềm thương nỗi nhớ một nàng Tiên. Gia Đông vui chơi cho đến mãi tận chiều, bằng ngồi nghỉ dưới gốc cây gần đền. Lúc nầy người đã thưa thớt không còn mấy người. Gia Đông bỗng nghe một giọng ngâm trong trẻo
Yêu nhau từ thuở trên trời
Tưởng đâu hạnh phúc nào ngờ xa nhau
Đôi bờ cách trở biết bao
Kẻ nơi Tiên cảnh người vào trần gian
Duyên tình chưa dứt còn xanh
Cho chàng cùng thiếp bên nhau vẹn tình
Trời xanh chỉ lối đưa đường
Giờ Ta gặp lại chúng mình thành đôi
Gia Đông nghe những lời nầy thời xao động cả con tim đang lúc ngơ ngác tìm kiếm người ngâm thơ. Thời thấy một người con gái đẹp tuyệt trần từ trong đền thờ đi ra. Gia Đông nhận ra ngay chính là nàng Tiên thứ 9 trong lòng liền rộn lên bao niềm sung sướng. Người con gái xinh đẹp tuyệt trần đến bên Gia Đông thỏ thẻ. Thiếp là nàng Tiên thứ 9 trở lại trần gian để gặp chàng. Gia Đông nghe xong lòng như nở hoa, hai người vừa đi vừa chuyện trò vui vẻ, khi sắp đến con đường trở về nhà. Bỗng nàng Tiên thứ 9 biến đi đâu mất. Gia Đông tìm kiếm một lúc ngẩn ngơ ngơ ngẩn tìm mãi cho đến tối mới trở về nhà.
– Gia Đông đẩy cửa bước vào thời thấy mâm cơm dọn sẵn, nhiều món ăn ngon Gia Đông vô cùng kinh ngạc, nghĩ mình có quen biết với ai đâu mà có người lo cho mâm cơm tử tế nầy. Gia Đông nhìn quanh nhưng nào có thấy ai.
– Bụng đói lại thấy những món ăn ngon, ngồi xuống ăn hết sạch, ăn xong thời ngoài hiên trời cũng đã tối đen cơn gió lạnh đã lùa vào song sổ. Gia Đông không ngủ được vì nhớ đến người con gái xinh đẹp chong đèn đọc sách đến sáng.
Gia Đông lại vào rừng đốn củi đem về đổi lấy bát gạo nắm rau khi về đến nhà thời thấy mâm cơm đã dọn sẵn.
– Một hôm trời mưa to gió lớn, Gia Đông nhìn thấy một con Thiên Nga ở ngoài sân lạnh lẽo run lập cập. Gia Đông vốn thích chim Thiên Nga liền ra bế con Thiên Nga vào lòng ôm vào nhà chăm sóc tử tế. Thương yêu nói từ nay Thiên Nga ở đây với Ta, Ta chỉ có một mình. Thiên Nga như hiểu tiếng người gục gục cái đầu, từ đó mỗi lần đi ngủ Gia Đông thường để Thiên Nga bên cạnh mình.
– Nói về Gia Đông suy nghĩ mãi không biết ai là người nấu cơm, xào rau, làm nhiều món ăn ngon dọn sẵn cho mình. Bằng nói với Thiên Nga. Thiên Nga ở nhà xem ai đã giúp Ta, khi Ta về thời chỉ cho Ta biết.
Gia Đông lại vào rừng đốn củi, đi được một đoạn xa liền quay trở lại núp sau nhà xem ai đã giúp mình bấy lâu nay.
– Gia Đông bỗng thấy một người tiên nữ phải nói là xinh đẹp, người ấy không ai khác hơn, chính là nàng Tiên thứ 9 đã gặp nơi đền thờ. Gia Đông theo dõi thấy nàng Tiên thứ 9 quét nhà, nấu ăn, thời lao vào nắm lấy tay nói nàng chính là Tiên Nga thứ 9 mà tôi thương nhớ bấy lâu nay. Út Nga nàng Tiên thứ 9 không rụt tay lại để cho Gia Đông nắm. Út Nga nói em chính là Thiên Nga ở Non Tiên Cực Lạc tu luyện thành Tiên. Em có yêu một người tên là Công Tôn loài công tu luyện thành tiên. Cha em là Nga Vương vốn ghét loài công, nên đánh chết Công Tôn. Linh Hồn Công Tôn lưu lạc đầu thai xuống trần chính là chàng mang tên là Gia Đông. Có lẽ vì nhân duyên chưa dứt nên Trời xui khiến cho hai ta gặp lại nhau. Gia Đông nghe xong không còn gì sung sướng hơn.
– Thế là hai người trở thành vợ chồng chung sống với nhau thật hạnh phúc. Út Nga hóa ra vàng, bạc châu báu, mua đủ thứ đồ dùng, sửa sang lại nhà cửa sạch đẹp khang trang. Hối thúc Gia Đông học hành mai sau tìm được công danh.
– Hai vợ chồng Gia Đông ăn ở với nhau được ba năm thời trên trời một đàn Thiên Nga bay xuống hiện ra tám người con gái vô cùng xinh đẹp. Út Nga vui mừng nói các chị đến thăm em, chị cả Nhất Nga nói em vắng mặt ba ngày trên Non Tiên Cực Lạc, Cha có hỏi mấy lần nhưng các chị đều dấu nói là em đang tu luyện pháp thuật thần thông. Em mau trở về Non Tiên Cực Lạc bằng không Cha sẽ đến đây thời mất mạng cả hai.
– Chị cả Nhất Nga nhìn Gia Đông nói, Gia Đông bây giờ là loài người không phải là Loài Công. Mà loài người là cốt cách Rồng Tiên. Nếu không mất Đạo làm người, khi mãn kiếp trần Gia Đông sẽ trở thành Chánh Tiên, không phải Phi Tiên như chị em chúng Ta. Nhất định Cha sẽ gả Út Nga cho Gia Đông nếu Gia Đông giữ được lòng chung thủy. Thời hai người sẽ gặp lại nhau trên Non Tiên Cực Lạc. Lúc ấy ngươi thành Chánh Tiên sẽ chê muội Út Nga của Ta, vì trên Non Tiên Cực Lạc thiếu gì Tiên Nữ xinh đẹp. Nói xong Chỉ Cả của Út Nga nắm lấy tay Út Nga bay về trời. Gia Đông chỉ biết nhìn theo mà rơi nước mắt.
– Gia Đông dồn hết nỗi buồn vào việc chuyên tâm học hành thi đỗ đậu cao được Vua Hùng Thái Lang bổ nhiệm về làm quan tri huyện Thuận An.
Gia Đông không màn đến vợ con mà họa hình Út Nga bầu bạn sớm hôm, hết lòng lo cho dân cho nước tu theo Đạo Nhân Luân.
– Làm quan được mười năm từ trong bức tranh Út Nga hiện ra nói Cha thiếp chấp nhận cho thiếp làm vợ của chàng
– Từ đó hai người sống với nhau sanh được bốn người con hai trai hai gái đều học thành tài đứa lớn đã được 16 tuổi.
– Gia Đông kêu các con lại nói trần gian chỉ là cõi tạm thiên đàng mới thật chính quê, quê hương chính của Cha Mẹ ở trên Non Tiên Cực Lạc. Gần 20 năm qua Cha đã tu thiền luyện khí kết tụ nhị xác thân. Còn xác thân phàm tục nầy Cha đã vay mượn nơi cõi trần, những gì vay mượn đều phải trả. Cha sẽ bỏ lại xác phàm trả lại cho trần cùng Mẹ con là Út Nga bay về quê hương Non Tiên Cực Lạc chung sống cùng nhau chờ các con lên.
Nói xong Gia Đông nhắm mắt xuôi tay linh hồn thoát ra khỏi thể xác hóa ra chàng trai khôi ngô tuấn tú hào quang sáng chói, các con Gia Đông nhìn thấy cũng phải kinh hãi cho sự việc xảy ra, còn Út Nga nhìn không chớp mắt. Gia Đông nắm lấy tay Út Nga nói trở về Non Tiên Cực Lạc thôi em. Út Nga nhìn bốn người con nói ráng tu theo Đạo Nhơn Luân. Cha Mẹ sẽ rước các con về Non Tiên Cực Lạc nói xong hai người bay lên trời. Có tám người đang đợi trên tần mây. Những người đợi trên mây là những chị em của Út Nga. Thấy Gia Đông khôi ngôi tuấn tú cốt cách Thần Tiên còn đẹp hơn Công Tôn ngày xưa. Ai nấy cũng trằm trồ ca tụng Út Nga có phúc quá.
102. ĐĨA MUỐI VÀ ĐĨA THỊT
Ngày xửa ngày xưa ở huyện Hòa Chánh, có một cô giáo dạy văn nổi tiếng tên là Mỹ Hạnh. Cô nổi tiếng là kể chuyện rất hay. Đến giờ lên lớp của cô Mỹ Hạnh học sinh im lặng lắng nghe. Cô Mỹ Hạnh mở trang sách ra xem một hồi, ngước lên nhìn cả lớp rồi nói, hôm nay các em học môn thay đổi nếp sống.
Để nắm bắt được nội dung bài học Cô sẽ kể câu chuyện làm thay đổi nếp sống mà không cần dùng đến bạo lực hay ép buộc gì cả, đó là mẫu chuyện đĩa muối và đĩa thịt. Cả lớp reo hò chúng em rất thích nghe Cô kể chuyện. Cô Giáo Mỹ Hạnh ra dấu hiệu im lặng.
Cô kể rằng ngày xửa ngày xưa có một gia đình Họ Bảo tên là Thủ Lĩnh đông con, có thể nói là rất đông, đông như đàn vịt. Vì đông con bửa nào ăn cơm cũng dọn lên đĩa muối để ăn. Không may Thủ Lĩnh qua đời quyền huynh thế phụ anh cả tên là Bảo Thủ lên thế cuộc sống không gì thay đổi bữa ăn nào cũng dọn lên cũng chỉ là đĩa muối. xưa cũng thế và nay cũng thế anh em nhà Thủ Lĩnh ra sức bảo vệ đĩa muối cho tới cùng. Ai nói gì cũng không nghe, biểu gì cũng không thay đổi, có người biểu vứt đi thay thế món khác thời anh em nhà Thủ Lĩnh chống trả quyết liệt.

Ngoài món muối ra anh em nhà Thủ Lĩnh không biết đến những món khác. Quanh năm suốt tháng cũng chỉ là muối.
Cô Mỹ Hạnh nhìn các em rồi nói, ở đời dù vật ngon cho mấy, nếu cứ món ấy ăn hoài thời cũng ngán tận xương.
Huống chi là đĩa muối mặn chát nếu ăn nhiều càng thêm khác nước, thế mà anh em nhà Thủ Lĩnh ngày nào cũng nuốt tuy ớn muối tới tận óc, nhưng cũng phải ăn nếu không ăn thời chết đói. Sống ở đời có thể nói chín người mười ý có một số anh em nhà Thủ Lĩnh nhìn sang nhà hàng xóm trước đây họ cũng ăn muối để sống, nhưng nay thời đã khác thấy họ ăn toàn cá thịt thời thèm lắm, nhưng không biết làm sao thay đổi món ăn vì đĩa thịt không có.
– Cho đến một hôm các em nhà Thủ Lĩnh bàn với người anh cả Bảo Thủ nên thay đổi món ăn khác. Anh cả nói món khác là món gì, đàn em nín thinh không nói. Người anh cả Bảo Thủ quát chúng bây muốn chết cả lũ sao ném đĩa muối đi thời chúng ta lấy gì để mà ăn. Tao cũng biết bữa nào cũng đĩa muối không ăn thời đói mà ăn thời ớn tận óc. Nhưng biết làm sao vì chưa tìm ra món ăn nào khác để thay thế. Nghe anh cả nói như vậy tất cả ngồi im lặng.
– Cứ thế mấy anh em nhà Thủ Lĩnh người nào chịu muối thời bụng phình to như con ễnh ương khác gì cái trống kêu to rỗng tuếch. Còn người nào dị ứng ớn quá nuốt không nổi thời ốm tong ốm teo, nhưng biết làm sao đành nhờ người hàng xóm can thiệp. Các nhà hàng xóm có dịp để khoe món ăn bằng phô trương nào là sơn hào hải vị, nem rồng, chả phụng để cho anh em nhà Thủ Lĩnh nhìn thấy mà thèm, nếu anh em nhà Thủ Lĩnh nghe lời họ bỏ đi đĩa muối thời họ sẽ cung cấp đĩa thịt cho ăn.
Tay anh cả Bảo Thủ nào phải tay ngu trí lúc nào cũng tính toán. Ở đời hễ miếng ớt trao qua thời miếng cà trao lại nào có ai đem đến cho không. Những thứ mình không làm ra chỉ biết nương nhờ vào tay hàng xóm thời làm sao thay cho đĩa muối lâu dài được.
Khi cá đã ăn câu nếu thuận theo ý họ, thời họ cho ăn nhỏ giọt, còn nếu thấy không có lợi cho họ, thời họ không chu cấp cho nữa, lúc ấy đĩa muối không còn lấy gì để sống. Tay anh cả vốn đã già kinh nghiệm nghĩ cái lợi thời ít, cái hại thời nhiều vì thế luôn khép kín chẳng muốn thay đổi cuộc sống. Anh cả Bảo Thủ nói anh em ta bốp bụng thôi cứ giữ đĩa muối để mà ăn, còn hơn ném đĩa muối để rồi chết đói trong khi chưa có món ăn khác để thay thế.
– Từ đó người nào có ý tưởng thay đổi đĩa muối thời bị đánh hoặc giam nhốt, la trời khóc đất oán hận người anh cả, những người xưa nay đã bị dị ứng với đĩa muối càng ráng nuốt ăn vào đầu óc liền có vấn đề sanh ra nhiều tật lắm bệnh nào là bệnh biến thái, bệnh tự chuyển biến, bệnh tự chuyển hóa, tự chống phá lại sự Bảo Thủ Độc Tài Độc Trị. Đòi Tự Do Công Bằng Bình Đẳng sống theo Đĩa Thịt. ai muốn ăn theo kiểu nào thời ăn. Không chịu sự bó buộc bảo thủ nữa.
Cô Giáo Mỹ Hạnh nói các em có biết không. Mối họa sinh ra là do một số anh em nhà Thủ Lĩnh không theo kịp thời đại, khi xung quanh nhà hàng xóm họ đã tiến hóa cuộc sống lên một tầm cao. Ăn toàn đĩa thịt thay cho đĩa muối giữ lại ít muối làm gia vị cho món ăn mà thôi. Với tình thấy nầy không nói cũng biết nhà anh em Thủ Lĩnh sắp tiêu ma tan rã đến nơi. Cơ nghiệp Ông Cha làm nên tiêu tan thành mây khói.
– Cũng may cho đại gia đình Thủ Lĩnh không quên Cội Nguồn. Nên Ông Cha nhìn thấy con cháu nheo nhóc, khốn khổ trăm bề lại mang nhiều chứng bệnh do thừa chất muối hầu hết là mang chứng bệnh mất trí không phân biệt được phải trái, chia bè rẽ phái đấu đá lẫn nhau. Cứ tình hình nầy không bao lâu tự hại nhau rồi chạy theo những nhà hàng xóm, cơ nghiệp Ông Cha gầy dựng theo đó cũng mất luôn.
Bằng hiện về đem đĩa thịt để trên bàn Anh Cả nhìn thấy liền hỏi ai đem đĩa thịt đến, một số người nói không ai đem đến cả mà do Ông Cha hiện về đem cho chúng Ta. Anh Cả vốn xưa nay cũng đã ngán ngẫm đỉa muối nhưng chẳng lấy gì thay thế.
– Nay nhìn thấy đĩa thịt bốc hơi thơm phức anh cả kêu các em đến nói đĩa thịt là của Ông Cha Ta đem đến cho chúng Ta, còn nói thêm rằng các con cứ tự nhiên mà dùng ăn hết đĩa nầy Ta đem đến đĩa khác. Các em nghe Anh Cả nói thế liền gắp cục thịt bỏ vào miệng thưởng thức, thấy vừa ngon vừa lạ, ăn vào khỏe cả người.
Anh Cả nói các em đem đĩa muối cất vào trong xó, lâu lâu đem ra dòm ngó mà thôi. Đàn em nói sao Anh Cả không cho vào sọt rác, thằng nào còn luyến tiếc thời chui vào sọt mà xơi.
– Anh Cả nói đĩa thịt của chúng Ta là của Ông Cha chúng Ta, không phải là của các nhà hàng xóm. Đĩa thịt hàng xóm toàn là thịt mỡ lộn với da. Còn đãi thịt của chúng Ta toàn là thịt nạc pha chút ba rọi. Đúng là đĩa thịt thời đại vừa cao cấp vừa văn minh. Từ đó anh em nhà Thủ Lĩnh thay đổi chiều hướng đa phương hóa Đa Nguyên tự do công bằng bình đẳng. Thằng nào thích thèm đĩa muối ăn vào bị xơ cứng thời tống cổ nó ra khỏi nhà quan nhà quyền, cho về vườn nuôi gà nuôi lợn. Trị cái tội mù mờ khù khờ thiên đàng sung sướng không đi, địa ngục âm ti khổ cực lao đầu vào.
Gia đình nhà Thủ Lĩnh Độc Tài Độc Trị, từ đó trở thành Nhà Dân Chủ, Tự Do, Nhân Quyền lần lần sánh vai cùng với những nhà hàng xóm giàu có. Tự mình làm ra đĩa thịt thừa dư ăn còn xuất sang các nhà hàng xóm.
– Cô Giáo Mỹ Hạnh kể đến đây nhìn các em xem phản ứng ra sao. Thấy một số em lặng im, một số em chưa hiểu như muốn hỏi gì đó. Cô Giáo Mỹ Hạnh liền giải thích thêm câu chuyện làm thay đổi nếp sống mà không cần bắt buộc ai cả. Cô nói ví như người có chiếc xe đạp trành chạy cà rịch cà tang, đạp nặng muốn chết. Nhưng biểu người ấy bỏ chiếc xe đạp đi thời người ấy không bao giờ chịu bỏ. Nhưng chỉ cần đem xe hon da đến tặng cho, thời người có xe đạp trành tự vứt xe đạp trành vào xó, không ai nhìn thấy nữa là khác. Câu chuyện trên cũng vậy muốn cho gia đình Thủ Lĩnh bỏ đi đĩa muối thay đổi nếp sống văn minh. Thời phải có đĩa thịt đem đến trao cho họ để họ tự làm chủ đĩa thịt. Không cần biểu họ bỏ đĩa muối, họ cũng bỏ, bỏ một cách êm thấm khi đã có đĩa thịt.
– Làm thay đổi một nếp sống con người, hay làm thay đổi chiều hướng của một chế độ. Không cần ép buộc phải thay đổi. Chỉ cần đem lại nếp sống Văn Minh cho họ, thời tự chính họ thay đổi. Với phương pháp ấy còn gọi là Bất Chiến Tự Nhiên Thành.

Xu hướng

Bài mới









  • Chịu trách nhiệm nội dung: Trần Mạnh Hiệp
  • © 2024 Công ty Cổ phần MXH Tinh Tế
  • Địa chỉ: Số 70 Bà Huyện Thanh Quan, P. Võ Thị Sáu, Quận 3, TPHCM
  • Số điện thoại: 02822460095
  • MST: 0313255119
  • Giấy phép thiết lập MXH số 11/GP-BTTTT, Ký ngày: 08/01/2019